Kết nghĩa, giao hiếu

Chúng tôi muốn dành hẳn một phần để nói riêng về một tục lệ rất tốt đẹp và rất lý thú của người Thăng Long - Hà Nội. Đó là có kết chạ, kết nghĩa, giao hiếu… giữa những làng phố trong phạm vi một vùng của Hà Nội hoặc giữa một phố, một làng Hà Nội với một làng của các tỉnh xung quanh.

Chúng tôi muốn dành hẳn một phần để nói riêng về một tục lệ rất tốt đẹp và rất lý thú của người Thăng Long – Hà Nội. Đó là có kết chạ, kết nghĩa, giao hiếu… giữa những làng phố trong phạm vi một vùng của Hà Nội hoặc giữa một phố, một làng Hà Nội với một làng của các tỉnh xung quanh. Hiện nay, tục lệ tốt đẹp đó vẫn được trân trọng giữ gìn và trở thành mối quan hệ truyền thống trong đời sống văn hóa hiện đại.

a) Trước hết, xin kể qua về sự kết chạ, giao hiếu ở các vùng thuộc ngoại thành và ven nội.

– Giao hiếu từ nhu cầu đoàn kết bảo vệ xóm làng

Bốn làng Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt), Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp), Lê Xá (xã Hữu Hòa) và Yên Xá (xã Tân Triều) đều ở huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội đã cùng là Xa La (thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây bây giờ) phối hợp đặt ra quy ước giúp đỡ nhau chống trả giặc cướp. Một tấm bia đá hiện đặt ở chùa Xa La còn ghi tường tận sự việc này.

– Giao hiếu do cùng chiến thắng thiên tai:

Đó là tình kết nghĩa, giao hảo giữa dân làng Vạn Phúc (huyện Gia Lâm) và dân làng Nga My (huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Tục truyền từ đời nhà Lý nhà Minh gì đó, kinh đô cũng như các địa phương lân cận hay bị lũ lụt. Vùng sông Nhuệ bị nặng nhất. Vua mới điều dân làng Vạn Phúc vào Nga My (huyện Thanh Oai, Hà Tây) đắp đê. Dân Vạn Phúc có sáng kiến gánh bằng đòn ống, sọt tre đầy ắp đất, sắn bằng mai, nên chóng xong và do đó, kịp ngăn nước lũ công phá vùng Nga My. Từ đó hai làng kết chạ, coi nhau như anh em, các ngày lễ tết đều cử người qua lại cúng tế.

– Giao hiếu vì Thành hoàng làng là anh chị em hoặc thờ chung một thành hoàng.

+ Làng Phú Mỹ (xã Mỹ Đình) và làng Kiều Mai, cùng huyện Từ Liêm (?) thờ Quốc công. Tương truyền đây là hai tướng của Hai Bà Trưng. Hàng năm hai hàng cùng dự hội làng. Năm trước làng Chạ chị (Phú Mỹ) rước sang làng Chạ em (Kiều Mai). Năm sau Chạ em rước sang tạ Chạ chị.

+ Ba làng Nam Dư Thượng, Nam Dư Hạ, Thúy Lĩnh vào dịp hội làng lại còn rước bài vị thánh làng mình sang làng đăng cai. Ví dụ: Thúy Lĩnh có hội thì hai làng Nam Dư Thượng, Nam Dư Hạ mang phù trang, hương hoa, oản quả, kiệu Long đình có đặt bát hương thánh làng mình rồi rước đến đình làng Thúy Lĩnh (đang cai). Đến nơi, bát hương của hai làng đặt vào bên bát hương của vị thành hoàng làng sở tại. Tế xong chủ khách đều ăn cỗ. Nhiều năm khách làng bên đến ngồi gần 60 chiếu, mỗi chiếu bầy một mâm cỗ cho 6 người ngồi ăn. Thù tiếp xong, “quan anh”, “quan em” bịn rịn chia tay.

Về nghi thức kết chạ, giao hiếu thì thường là vào các ngày cúng lễ thành hoàng, làng này cử một đoàn bô lão sang dự lễ tế ở làng kia. Hoặc những khi làng này có sự cố gì thì làng kia tới giúp đỡ giải quyết. Tất nhiên là có ăn uống, to nhỏ là tùy kinh tế từng làng.

x

x     x

Ở ven nội thành thì phải kể tới đền Voi Phục nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình thuộc làng Thủ Lệ. Làng này và các làng Thụy Khuê, Hào Nam kết nghĩa, vì đều thờ thánh Linh Lang. Lệ mở hội xưa là ngày đầu (10/2) rước kiệu từ Thụy Khuê về Thủ Lệ. Ngày thứ hai (11/2) rước kiệu từ Thủ Lệ về Hào Nam. Thủ Lệ giữ lệ thờ cúng. Chính hội 5 năm một lần thì Thủ Lệ làm chủ tế. Vạn Phúc đọc chúc văn. Còn hội lệ hàng năm Vạn Phúc làm chủ tế. Thủ Lệ đọc chúc văn. Thực ra không chỉ có 3 làng này mà các địa phương ở các tỉnh lân cận có thờ Linh Lang cũng cử đoàn về dự chính hội như: Bồng Lai, Chí Trung, Đình Vĩ (Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), Thọ Vực (Hưng Yên)…

Cũng ở ven thành có một trong tứ trấn của kinh thành là Kim Liên (quận Đống Đa). Xuất phát từ tình nghĩa giao hiếu, có ba nơi rước kiệu đến Kim Liên khi mở hội là Quỳnh Lôi, Phương Liệt, Bạch Mai, vì cả 4 làng này đều thờ thánh Cao Sơn.

b) Việc kết chạ giao hiếu ở nội thành cũ:

Xin được nói kỹ hơn về tục giao hiếu, kết chạ ở những địa phương thuộc phạm vi kinh thành Thăng Long – Hà Nội cũ. Cho tới thời Pháp thuộc, một số thôn phường ở nội thành vẫn giữ tục giao hiếu. Qua điều tra hồi cố, tục này diễn ra như sau: Hàng năm trong dịp lễ lớn nhất, các thôn phường gần nhau, hoặc cùng thờ một vị thần thì rước lẫn sau nhau, gọi là rước đánh giảI, trước là lễ thần, sau là giải tọa uống rượu nghe hát, để tỏ tình giao hiếu với nhau. Cũng có nơi mỗi phường thôn làm chủ một năm, các phường thôn khác rước kiệu thánh về cả làng đó mà hội tế.

Khi phường này rước sang phường kia, các người đi rước thường làm sẵn một mâm cơm lịch sự, đựng vào cái quả dỏ, cho người đem sang đám rước, gọi là Cơm quả. Với những viên chức thì đã có đăng cai sửa năm ba mâm cỗ nấu, gọi là Cơm quan viên. Khi rước sang đến làng khác, lễ thánh đâu vào đấy thì nghỉ ngơi ăn uống. Ăn uống xong xuôi, mới vào đình giải tọa nghe hát.

Cỗ bàn khoản đãi phường giao hiếu, hoặc dùng cỗ mặn hoặc dùng cỗ chay. Nhưng thường dùng cỗ chay nhiều hơn. Mỗi cỗ có một đĩa mía, một đĩa lạc luộc, một đĩa mứt, một đĩa trám, mơ, nhót, dừa… Trong khi ăn uống, làng sở tại phải cử người mặc áo thụng ra mời mọc rất là cung kính, mà mời hạng người nào thì phải cử hạng người ấy, ví như mời hạng bô lão thì cử người bô lão, mời viên chức thì cử người viên chức… (Theo tư liệu Phan Kế Bính).

Ở nội thành Hà Nội có những thôn sau này giao hiếu với nhau:

– Hai thôn Cổ Thành (phố Trịnh Hoài Đức) và Hẫu Mễ (một đoạn phố Cát Linh) giao hiếu do cùng thờ một thần Tăng Bảo An Chính Trực (không rõ lai lịch).

– Hai thôn Đức Viên (phố Trần Xuân Soạn) và Hương Viên (khu phố Lò Đúc) giao hiếu do cùng thờ Chu Văn An.

– Bảy thôn ở cửa sông Tô: Hương Tượng, Giang Nguyên, Hương Bài, Ưu nghĩa, Phúc Lộc, Phất Lộc… (nay là các phố Mã Mây, Lương Ngọc Quyến, Hàng Mắm, Phất Lộc) giao hiếu do cùng thờ Nguyễn Trung Ngạn.

– Nguyên Khiết Thượng và Nguyên Khiết Hạ () giao hiếu do cùng thờ Bạch Hoa công chúa (không rõ lai lịch).

– Thôn Thạch Khối Thượng, Hạ (nay là đoạn cuối đường Yên Phụ và phố Hàng Than) và Giai Cảnh (nay thuộc các phố Hàng Than và Hòe Nhai) giao hiếu do cùng thờ Uy Linh Lang.

– Nam Ngư (phố Nam Ngư) và Vĩnh Xương (đầu phố Nguyễn Thái học) cùng thờ một vị thần (không còn lưu lại tên).

– Xuân Biểu (đầu phố Sơn Tây) cùng Ngọc Hà – Hữu Tiệp giao hiếu do cùng thờ Hắc Đế.

– Sơ Trang (phố Lò Sũ) và Trang Lâu (giữa phố Nguyễn Hữu Huân) cùng giao hiếu do thờ cùng một thành hoàng (không còn lưu lại tên).

– Yên Viên (đầu phố Cửa Bắc), Trúc Yên (phố Đặng Dung) và Châu Yên (phố Châu Long) cùng thờ Quan Công nhưng chỉ có Yên Viên và Trúc Yên giao hiếu.

Đến thời Pháp thuộc, lệ tục có đơn giản hóa, nhất là sau dịp cải lương phong tục 1927 thì các lễ giao hiếu chỉ có trầu cau oản quả.

x

x     x

Làng thôn vốn là cơ cấu gốc về tổ chức xã hội của người Việt, là một chỉnh thể kinh tế – xã hội, văn hóa và là cấp hành chính cơ sở của nước. Do tính chất cố kết cộng đồng cao biểu hiện ở cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng kinh tế – văn hóa nên tục lệ kết chạ, kết nghĩa, giao hảo, giao hiếu… khá phổ biến, có khi là hai làng, khi là 5 làng, có khi là 10 làng, 20 làng… kết chạ từ rất xa xưa và giữ lệ đến tận nay.

Mỹ tục này cốt lõi là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau của mỗi làng quên trong sản xuất, tổ chức đời sống, đấu tranh chống thiên tai, chiến đấu chống ngoại xâm…

Ngày nay, tục lệ kết chạ, giao hiếu… được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.

Có khi là sự kết nghĩa trong mối tình “quân dân cá nước”. Đã có biết bao đơn vị bộ đội kết nghĩa với những làng xã nơi đóng quân. Các đoàn thể, tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân… thì kết nghĩa với các đơn vị bộ đội ở biên giới hay hải đảo xa xôi. Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán hay những ngày kỷ niệm lớn của dân tộc… các đơn vị, đoàn thể, làng xóm… ấy đều có tổ chức thăm viếng lẫn nhau, chu đáo và đầm ấm.

Lại có khi là sự kết nghĩa giữa Hà Nội với các tỉnh thành. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh miền Bắc – hậu phương lớn với các tỉnh miền Nam – tiền tuyến lớn, Hà Nội đã kết nghĩa với Huế – Sài Gòn. Câu ca nổi tiếng sau đây đã thể hiện tình nghĩa keo sơn ấy:

Hà Nội – Huế – Sài Gòn

Là cây một gốc, là con một nhà.

Phong trào kết nghĩa còn diễn ra ở các tỉnh có quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa, xã hội như Hà Nội kết nghĩa với Lai Châu.

Ngày nay, trong xu thế của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế khu vực, hình thành tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Đó là mối quan hệ phát triển kinh tết khu vực, vừa là mối giao hảo, kết nghĩa nối tiếp mạch phong tục cổ truyền đẹp đẽ, những phong tục tập quán chứa đựng các nhân tố cơ bản của nền văn hiến Thăng Long.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*