Thành hoàng và ngôi đình

Khu vực Thăng Long trước khi là đô thị cũng là các làng nông nghiệp, do vậy cũng có thành hoàng, có đình miếu. Nhưng khi đã đô thị hoá, làng trở thành phường, nông dân trở thành thị dân, tín ngưỡng có thay đổi. Nếu như nông dân cúng lễ thành hoàng chỉ là cầu bình an và nhất là mưa nắng phải thì, mùa màng tốt đẹp, thì người thị dân lại cầu phát tài, phát lộc, cầu buôn may bán đắt, cần một vốn bốn lời chứ không cầu mưa nắng phải thì.

Tất cả các làng có lịch sử lâu đời ở Việt Nam đều có thờ thành hoàng. Thành hoàng vốn là một thuật ngữ tín ngưỡng của Trung Quốc cổ, chỉ vị thần bảo hộ cho một thành trì. Nhưng ở ta thành hoàng trở thành vị thần bảo hộ riêng từng làng mang tính nhân bản phục vụ cộng đồng. Nguồn gốc các thành hoàng khá phong phú. Có thể là do trời sai xuống hạ giới giúp dân, xuống trực tiếp hoặc qua khâu đầu thai, thường gọi là thiên thần. Có khi là người trần thế, những người đã khai hoang vỡ đất, lập ra xóm làng, là nhân vật lịch sử đích thực: Lý Bí, Trần Hưng Đạo… Nhưng cũng có những nhân vật có tính “giả lịch sử” hơn là lịch sử tức các nhân vật huyền thoại truyền thuyết, mà ngay cả nhân vật lịch sử đích thực cũng được phủ lên một màn sương của huyền thoại, như Trần Hưng Đạo trở thành đức Thánh Trần có phép trừ Phạm Nhan và các tà ma, như An Dương Vương Thục Phán có thể tiếp cận được rùa thần, có cả nỏ thần và kết thúc là đi xuống long cung (chứ không chết).

Như vậy, thành hoàng làng biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên.

Nhưng hệ thống đó lại có sức mạnh tinh thần cố kết cộng đồng: làng xã. Như ý kiến của GS. Đào Duy Anh phát biểu từ năm 1938 mà chúng tôi vừa dẫn ở trên: “Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ uy quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chịa” (Việt Nam văn hoá sử cương – 1938 – Huế).

Do vậy mỗi làng đều có thờ thành hoàng. Thành hoàng làng thường là một vị song cũng có làng thờ tới dăm sáu vị. Và ngược lại có nhiều làng lại cùng thờ một vị. Như thánh Linh Lang là thành hoàng chính của làng Thủ Lệ (quận Ba Đình) nhưng còn được thờ làm thành hoàng của trên 260 làng khác nhau ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ.

Trong làng, thành hoàng được thờ ở đình. Nhưng đình chỉ là nơi coi như là trụ sở làm việc của “ngài”. Mỗi làng còn có thêm một ngôi miếu mà ở vùng xứ Đoài gọi là quán và ở xứ Đông, xứ Nam cùng Thanh Hoá, Nghệ An gọi là nghè. Đó mới là nơi cư trú của “ngài”. Cho nên các ngày hội, dân phải rước “ngài” (hình dung bằng bài vị) từ nghè ra đình để “ngài” chứng giám.

Khu vực Thăng Long trước khi là đô thị cũng là các làng nông nghiệp, do vậy cũng có thành hoàng, có đình miếu. Nhưng khi đã đô thị hoá, làng trở thành phường, nông dân trở thành thị dân, tín ngưỡng có thay đổi. Nếu như nông dân cúng lễ thành hoàng chỉ là cầu bình an và nhất là mưa nắng phải thì, mùa màng tốt đẹp, thì người thị dân lại cầu phát tài, phát lộc, cầu buôn may bán đắt, cần một vốn bốn lời chứ không cầu mưa nắng phải thì. Do vậy khi còn là làng nghề nông thì thành hoàng là đơn năng nhưng khi trở thành kinh đô, thành Thăng Long – Hà Nội thì thành hoàng cũng trở thành đa năng (1).

Đình:

Như đã nêu trên, ban đầu dân lập ra miếu (tức nghè hoặc quán) để làm “nơi ở” cho thần, rồi tiếp tới lập ra đình là “nơi làm việc” của thần. Nhưng đình còn nhiều chức năng khác và là một “đặc sản” của văn hoá dân gian Việt Nam. Ít ra thì từ thế kỷ XV đình trở thành ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã. Nơi đây ba chức năng được thực hiện: hành chính, tôn giáo, văn hoá. Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn “việc làng” để xử kiện, phạt vạ… Về chức năng tôn giáo đình là nơi thờ thần thành hoàng, nơi thần làm việc quan. Về chức năng văn hoá, đình là nơi biểu diễn văn nghệ (chèo, hát cửa đình), nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi… Thực ra các chức năng trên không bao giờ được tách bạch, mà đan xen hoà quện với nhau.

Có thể coi đình là một toà thị chính, một nhà thờ và một nhà văn hoá cộng lại của làng xã Việt Nam… Đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình của văn hoá làng xã Việt Nam.

Ở Thăng Long cũng vậy, kể từ khi vua Gia Long xoá phiên chế 36 phường của đời Lê, chia ra thành 230 phường, thôn, trại thì mỗi phường, thôn, trại coi như là một làng. Mỗi làng có một thành hoàng và một ngôi đình để thờ. Năm 2000, kiểm kê trên bốn quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa hiện còn 158 ngôi đình. Có điều là nửa thế kỷ qua, quan niệm vô thần cùng với điều kiện chiến tranh đã khiến các ngôi đình bị biến dạng. Nhiều nơi thành nhà kho, vườn trẻ, lớp học… Dân bận bịu mưu sinh cũng không còn nhớ tới thành hoàng. Chỉ từ những năm 90 của thế kỷ trước, chính sách nhà nước thông thoáng, dân lại giàu lên, đình ở Hà Nội được phục hồi, tu sửa. Nhưng các chức năng nguyên sinh của đình thì không còn nữa.

Trước kia làng xã cần có trụ sở để làm việc, có nơi thờ thành hoàng và nơi tổ chức hội hè nên làng xã xây dựng đình. Nay đình không là trụ sở làm việc nữa mà tín ngưỡng thờ thành hoàng thì phai nhạt nhất là ở lớp trẻ, thành phần đa số trong dân cư vả lại ở nội thành đâu còn giữ nguyên dân cư các đơn vị phường thôn cũ nữa; dân tứ chiếng quần cư là chính, khi tụ khi tán nên họ đâu có biết đến thành hoàng bản địa mà hiện nay không còn đa năng toàn năng như các Mẫu. Còn hội hè có mở lại thì chỉ là tế lễ y trang theo kiểu cổ, mũ mãng cân đai, nghi thức rườm rà, thủ lợn, gà, xôi, đó chỉ còn là những việc phù hợp với các bậc cao niên dù có nơi đưa cả đội nữ tế vào đình, dù trái với tục lệ cũng không hấp dẫn giới trẻ. Theo qui luật – cả trong tự nhiên và trong xã hội  – thì “chức năng sinh cơ quan” (fonction crée l’organe), ở đây chức năng đã thay đổi như vậy thì cơ quan (ngôi đình) cũng thay đổi là điều tất nhiên.

Bây giờ dân đi lễ đổ xô đến đền Mẫu, vì dường như Mẫu ở ngay cõi trần, rất dễ thỉnh cầu, có thể sớm cầu tối cầu được, lại là chỗ lên đồng hầu bóng, đàn ca du dương khoái lạc. Ngoài ra, số đông còn đến chùa. Phật thì ở xa, tận Tây phương cực lạc song các vị ni sư đạo trọng đức cao rất khéo thuyết giảng dẫn dắt phật tử toàn tâm toàn ý cúng dâng đầu tư phụng dưỡng phật, pháp, tăng. Còn các vị thành hoàng thì chỉ có mưa nắng để ban phát thì thị dân chẳng mấy ai cần. Cho nên ngày nay đình chỉ là nơi lưu giữ một phong tục cổ truyền một thời là chủ đạo trong lĩnh vực tâm linh của người Việt.

(1) Xem thêm “Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân” – Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh – NXB Hà Nội, 2004.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*