Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất

Sau khi đã chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ (6-1867) thực dân Pháp tính đến chuyện đánh Bắc, chiếm Hà Nội.

Tuy nhiên, không phải đến khi đội quân viễn chinh Pháp đặt chân tới Hà Nội thì người Hà Nội mới đứng lên. Ngay trong khoa thi Hương năm Giáp Tý (1864), khi nghe tin triều đình Huế chịu khuất phục ký hiệp ước 5-5-1862 dâng ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp, phần lớn các thí sinh trường Hà Nội đã “đại náo trường thi” để phản đối. Ba ngàn người đã không chịu vào trường thi, tập hợp đội ngũ chỉnh tề, tiến tới Văn Miếu làm lễ, rồi kéo về Hồ Gươm, vừa đi vừa hô lớn xin được vào Nam giết giặc. Đoàn biểu tình đã được nhân dân các phường phố nhiệt liệt hưởng ứng. Vậy mà quan lại đã thẳng tay đàn áp ! Sáng hôm sau, tuy khoa thi lại tiến hành nhưng chỉ còn một phần ba số người dự so với danh sách đăng ký, và người Hà Nội thời đó cho rằng đỗ khoa này chẳng vinh hiển gì !

Nhưng thực dân Pháp càng thấy rõ xu hướng cầu hoà của vua quan triều Nguyễn. Song chúng không dám hành động ngay. Phải tới cuối năm 1872, sau khi đã củng cố thuộc địa của Nam Kỳ để có thể dùng làm bàn đạp chúng mới dám đi tới quyết định đánh ra Bắc.

Hoạt động của Duypuy

Để kiếm cớ, chúng dùng con bài Đuypuy (Jean Dupuis), một lái súng phiêu lưu đang ôm mộng độc chiếm dòng sông Hồng để ngược lên vùng Vân Nam (Trung Quốc) làm giàu. Đuypuy tới Hà Nội ngày 22-12-1872 với một lực lượng quân sự đáng kể.

Mặc dù không được triều đình Huế cho phép, Đuypuy vẫn ngang nhiên cho thuyền chở hàng ngược sông Hồng lên vùng biên giới (3-1873). Lúc trở về, hắn mộ thêm được một số lính Trung Quốc. Trước những hành động ngang ngược đó, nhân dân Hà Nội triệt để thực hiện lệnh của các quan đứng đầu tỉnh. Không ai chỉ đường, bán hàng tiếp tế cho Pháp, chợ búa không họp. Đồng thời, quân dân nhiều nơi còn đóng cọc trên sông để ngăn chặn tàu thuyền địch qua lại.

Từ sau chuyến buôn trót lọt lên vùng biên giới trở về, với một lực lượng quân sự mới mẻ được tăng cường, Đuypuy càng tỏ ra hung hăng và đòi hỏi nhiều điều quá đáng. Hắn đòi được đóng quân trên bờ sông Hồng, có nhượng địa ở Hà Nội, thả những người hợp tác với hắn bị bắt giam, được cung cấp muối và than để chở lên Vân Nam bán. Rồi hắn còn bắt xuống tầu một số quan quân ta và cướp thuyền gạo của triều đình ở bờ sông, khước từ mọi việc tiếp xúc thương thuyết với chính quyền tỉnh.

Trước tình hình đó, các quan lại có trách nhiệm ở Hà Nội muốn có một thái độ cương quyết bảo vệ chủ quyền của mình. Nhưng họ lại phải khoanh tay vì chưa có lệnh của triều đình (!) Trái lại, nhân dân Hà Nội, sục sôi yêu nước, căm thù, đã có hành động tự phát và quyết liệt, buộc Đuypuy phải chùn tay. Khi bọn Pháp xúc phạm tới một nhà nho có danh vọng của Hà Nội là đốc học Lê Đình Duyên – ông người làng Nhân Mục, tức làng Mọc – (nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân) tức thì một đội nghĩa sĩ 300 người, phần lớn là học trò kéo ra phục kích trên bờ sông Hồng chặn đánh khi chúng vừa đổ bộ lên định xông vào cướp phá các làng mạc.

Gácniê đánh thành Hà Nội

Giữa lúc quan hệ hai bên đang như vậy thì thực dân ở Sài Gòn phái Gácniê (Francis Garnier) đưa quân ra Bắc, bề ngoài với danh nghĩa theo yêu cầu của triều đình Huế để giải quyết vụ Đuypuy, nhưng bên trong là để kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn đề Bắc Kỳ. Cho nên, vừa đặt chân tới Hà Nội ngày 15-11-1873, hắn đã lộ rõ bộ mặt xâm lược, đưa ra nhiều yêu sách ngang ngược: đòi đóng quân trong thành, đòi mở sông Hồng cho tàu thuyền Pháp, đòi tổ chức việc thu thuế. Hắn còn cho quân đi vào các khu vực đông dân cư, núp sau chiêu bài canh gác giữ gìn an ninh trật tự, kỳ thực là để cướp bóc.

Trước tình hình đó, quan lại tại Hà Nội chỉ biết ngồi chờ lệnh trên. Mà triều đình Huế thì khi nghe tin, cũng chỉ biết cử phái viên ra Bắc điều đình (!) trên thế yếu, nuôi ảo tưởng có thể dùng lời lẽ thuyết phục Gác-ni-ê đuổi tên Đuypuy đi và sau đó là rút về Sài Gòn. Nhân dân Hà Nội thì không chịu ngồi yên. Việc bất hợp tác với địch đã được thi hành. Gác-ni-ê lâm vào tình thế ngày thêm nguy khốn, các giếng nước uống trong vùng thường bị bỏ thuốc độc, ban đêm kho tàu của chúng bị đốt cháy, nguy cơ bị quân dân ta tấn công tiêu diệt là rõ.

Đúng vào lúc đó, hắn nhận được viện binh từ Sài Gòn tới. Với lực lượng được tăng cường, ngày 15-11-1873 hắn đơn phương tuyên bố tự do mở đường sông Hồng, thiết lập chế độ thuế mới. Bốn ngày sau, hắn gửi tối hậu thư buộc tổng đốc Hà Nội phải giải giáp quân đội, rút hết súng đại bác bố trí trên mặt thành. Không đợi trả lời, sáng sớm ngày 20-11, hắn ra lệnh nổ súng đánh thành Hà Nội.

Xét về tương quan lực lượng thời đó giữa hai bên, quân số triều đình đông hơn nhiều so với quân viễn chinh Pháp, nhưng ít được luyện tập, trang bị kém, súng đạn thiếu thốn. Đã thế, việc chuẩn bị đối phó với một cuộc tấn công của địch không được chú ý đúng mức. Bản thân tổng đốc Nguyễn Tri Phương cũng không ngờ địch trở mặt sớm như vậy. Mặc dù thế, khi tiếng súng đã nổ thì quân dân Hà Nội chiến đấu rất anh dũng. Nguyễn Tri Phương lên cửa thành phía Nam trực tiếp chỉ huy quân sĩ. Khi quân Pháp từ phía bờ sông tiến vào phố, có sự yểm hộ của đại bác từ tàu chiến đậu ngoài sông, thì chúng đã bị đội quân do một chưởng cơ đánh chặn quyết liệt ở ô Quan Chưởng, dù đã phải hy sinh đến người cuối cùng. Tú tài Phạm Lý tổ chức những người trong huyện Thọ Xương tìm cách chặn đứng bước tiến của giặc. Tuy nhiên, dựa vào uy thế của hoả lực, địch đã vượt qua nhiều trở ngại để tiếp cận chân thành. Cuộc chiến ác liệt đã diễn ra ngay trên mặt thành. Thế quân ta núng dần sau khi chủ tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. [Sau đó giặc Pháp cố tình cứu chữa ông để tìm cách mua chuộc về sau, nhưng ông đã xé băng buộc thuốc, rồi nhịn ăn mà chết]. Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng hy sinh tại trận. Giặc thừa thắng tràn vào thành. Nhưng nhân dân Hà Nội dưới sự chỉ huy của các sĩ phu yêu nước, vẫn duy trì cuộc chiến đấu trong lòng Hà Nội. Đáng chú ý là hoạt động bí mật của Nghĩa hội (thu hút đông đảo các nhà nho, những người buôn bán làm thợ) chuyên lo thu thập tin tức của địch báo cho quan quân bên ngoài để có kế hoạch đối phó, phá hoại các kho tàng của chúng, trấn áp những kẻ theo giặc.

Chiếm được thành Hà Nội, Gác-ni-ê không dám cho quân đóng phân tán, sợ bị tiêu diệt mà đóng ngay trong thành, bịt kín các cửa thành, chỉ dành riêng cửa Đông để liên lạc với bên ngoài. Mặt khác, hắn gấp rút tuyển mộ lính nguỵ và ra sức đánh thuế nặng để vơ vét tiền bạc.

Bọn thực dân hiếu chiến Pháp ở Sài Gòn rất mừng khi được tin Gácniê chiếm Hà Nội, tuy cũng ngại triều đình Huế phản ứng. Song nhà Nguyễn nhu nhược nên không muốn kháng chiến chống Pháp. Lúc này chỉ muốn điều đình, thương thuyết, đúng ra là nài nỉ giặc Pháp, hết viết thư hoặc phái người vào Sài Gòn yêu cầu bọn Pháp gọi Gácniê về, lại cho người ra Hà Nội điều đình xin trả lại thành trì và kho tàng!

Gácniê đền tội ở Cầu Giấy

Lợi dụng tình hình đó, Gácniê tung quân đánh chiếm rộng ra vùng đồng bằng. ở tất cả các nơi chúng tới, nhân dân địa phương đều sôi nổi tự động võ trang chặn đánh quyết liệt. Nhưng do sức đề kháng yếu ớt của quan quân triều đình, chỉ trong vòng không đầy một tháng (từ 23-11 đến 12-12) các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định đều lọt vào tay giặc. Mãi tới lúc này quân của triều đình đóng ở Bắc Kỳ dưới quyền chỉ huy của Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết mới quyết tâm đối phó.

Lưu Vĩnh Phúc, tướng chỉ huy của quân Cờ đen – vốn từ Trung Quốc sang hàng nhà Nguyễn – được lệnh kéo quân về Hà Nội đóng ở làng Cót (nay thuộc phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy).

Ngày 21-12-1873, Lưu Vĩnh Phúc kéo quân vào sát thành Hà Nội khiêu chiến. Lúc ấy 10 giờ sáng, Gácniê đang hội đàm với sứ giả của triều đình Huế là Trần Đình Túc (mới ra hôm trước) liền kéo quân ra nghênh chiến. Quân Cờ đen rút lui theo kế hoạch đã định trước. Gácniê đuổi theo tới gần Cầu Giấy thì bị sa vào lưới mai phục. Hắn và Banny, tên sĩ quan thân cận cùng đa số quân Pháp bị tiêu diệt. Số sống sót chạy về Đồn Thuỷ.

Sau trận này, bọn thực dân Pháp đóng tại Hà Nội rất sợ hãi. Tình trạng suy sụp tinh thần của chúng do chính Đuypuy ghi lại:

“Sự khủng khiếp lớn lại tràn lan trong thành, nhất là trong đám người Pháp. Chỉ còn lại 40 người khoẻ manhh, mà ngay trong số này, nhiều người đã mệt mỏi vì mấy ngày trước đã hành quân nhiều “ [Les évènements du Tonkin – J.Dupuis]

Trong tình thế đó quân dân ta đã lợi dụng triệt để thời cơ để siết chặt vòng vây chung quanh các cứ điểm có giặc Pháp chiếm đóng như Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương. Như Trương Quang Đản đã tự động chiêu mộ quân lính thừa đêm tối lội qua sông Đuống tấn công giặc đóng ở phủ Thuận Thành, diệt một số lính Pháp, bắt nhiều nguỵ quân, giải phóng được phủ. Một đơn vị quân đội Pháp đóng ở phủ Hoài Đức cũng bị quét sạch. Tất cả lực lượng chúng đã tung ra đóng thành các căn cứ ngoại vi xung quanh Hà Nội đều bị dồn trở lại thành phố. Lưu Vĩnh Phúc đã chuẩn bị hàng trăm thang dài để vượt thành vào tiêu diệt bọn xâm lược tại hang ổ của chúng.

Vấn đề tiêu diệt thực dân Pháp là hiện thực. Vậy mà, triều đình Huế đã ký “hoà ước” !

Theo hoà ước ngày 15-3-1874 và thương ước tháng 8-1874, thực dân Pháp phải trả lại Hà Nội. (Thực ra nếu chúng không trả lại Hà Nội và Bắc Kỳ thì chúng cũng sẽ bị tiêu diệt). Với những ký kết ấy, chúng đã đặt được cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự của chúng ở khắp các nơi quan trọng ở Bắc Kỳ. ở Hà Nội, triều đình Huế phải dành cho chúng một khu vực “nhượng địa” mà chúng có quyền đặt lãnh sự với 100 quân thường trực. (Tức nay là khu từ Viện Bảo tàng Lịch sử chạy dài tới Bệnh viện Hữu nghị).

Hoà ước 1874 thực chất chỉ là một sự đầu hàng tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược toàn thể lãnh thổ Việt Nam ngót một chục năm sau.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*