Hoạt động công thương nghiệp của người Việt Nam

Những năm đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh 1914-1918

Hà Nội nguyên là một thành phố buôn bán sầm uất và nghề thủ công rất phát triển. Tuy nhiên, những hàng công nghệ cần thiết đều phải mua của nước ngoài, và lại qua tay các nhà buôn ngoại quốc. Tình trạng đó đã được người đương thời vạch rõ:

“Biết bao nhiêu là đèn, là dầu, là vải, là vóc, là ô, nào giày, nào bít tất, là đồ văn minh các nước vẫn chở vào nước mình; thế mà nước mình không có một cái gì để đổi lại. Mà lại để cho những hiệu khách buôn đi bán lại, để thâu cho hết tiền bạc của ta, mang từng xe từng hòm đi… nước ta được bao nhiêu của, giọt máu, mồ hôi, mà để đựng vào cái chén bốn mặt thấm hết đi, thì được bao lâu mà cạn hết ?

Chết nỗi ! Cả nước không có một cửa hàng nào lớn, xưởng thợ nào đông, người trong nước thì không có nghề nghiệp gì mà trông cậy được” (Nghiêm Xuân Quảng – Đăng Cổ tùng báo – Số 1.8.1907)

Nhận xét trên chứng tỏ những người Việt Nam thức thời, yêu nước hiểu rằng muốn cho đất nước mau chóng thoát khỏi ách thống trị của tư bản ngoại xâm thì chỉ có một con đường duy nhất trong hoàn cảnh lúc đó là phát triển kinh tế, làm cho nước giàu dân mạnh. Trên cơ sở ý thức như vậy, những năm đầu thế kỷ XX ở Hà Nội đã xuất hiện một số cửa hàng lớn như Đồng Lợi Tế, Hồng Tân Hưng và những công ty cổ phần như Quảng Hưng Long, Đông Thành Hưng, Quảng Hợp Ích. Phần lớn những của hàng và công ty ấy đều do các sĩ phu chủ trương. Một số nhà công thương gia Việt Nam cũng đã nghiên cứu sản xuất được những hàng nội hoá để thay thế cho hàng ngoại quốc như loại vải may âu phục, dầu để pha sơn, nhựa gắn, sơn véc ni… Trước kia, công thương nghiệp bị coi rẻ, và con đường tiến thân duy nhất là con đường ra làm quan, nhưng đến thời kỳ này đã có một chuyển hướng lớn về mặt tư tưởng : ở Hà Nội đã có một phong trào mở mang công thương nghiệp. Đến khi nổ ra chiến tranh, công thương nghiệp của người Việt Nam ở Hà Nội có những bước phát triển khá đặc thù. Hà Nội vốn có một truyền thống thủ công nghiệp khéo tay hay nghề nên khi có chiến tranh, các nghề thủ công đó có dịp phát triển mạnh mẽ hơn trước nhiều. Những hãng buôn của người Việt Nam đã có từ trước gặp dịp chiến tranh cũng buôn bán heo lối đầu cơ và kiếm được nhiều lãi. Do đó một số tư sản ở Hà Nội đã bắt đầu xuất hiện ngay trong chiến tranh như xưởng dệt Lưu Khánh Vân ở Ngọc Hà dệt cả vải chúc bâu, khăn mặt, nhà in Ngô Tử Hạ,…

Với đại chiến thế giới lần thứ nhất, những hoạt động công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở thủ đô Hà Nội đã tiến một bước quan trọng làm cơ sở cho sự phát triển mạnh sau đó.

Những năm sau chiến tranh 1914-1918

Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam ở Hà Nội phát triển với một tốc độ nhanh chóng. Chính một tờ báo của tư sản Pháp năm 1921 cũng đã tỏ thái độ kinh ngạc trước sự phát triển đó.

“… Những người Pháp xa Bắc Kỳ sáu, bảy năm nay quay trở lại sẽ thấy một sự thay đổi lớn. Họ đã có những cửa hàng lộng lẫy ở những phố sang trọng. Một trong những nhà in khá nhất ở Hà Nội là của một người Việt Nam” (L’ éveil économique – Số 2.1.1921).

Sau chiến tranh, nhiều công thương gia hàng hoá đã tích luỹ được vốn và trở thành những chủ xí nghiệp hoặc hãng buôn. Hãng tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi có hàng chục con tàu chạy sông và chạy biển. Công ty Quảng Hưng Long ngoài buôn bán đến năm 1920 đã mở thêm xí nghiệp chế xà phòng, làm đồ sắt, dệt chiếu, làm đèn sử dụng hàng trăm công nhân. Vũ Văn An đã mở được một sí nghiệp nhuộm tẩy hấp len dạ, và một cửa hàng tơ lụa vào loại lớn, đến cuối năm 1929 lại mở thêm nhà máy bia. Đào Thao Côn, chủ công ty buôn “Hưng nghiệp hội xã” mở thêm xí nghiệp dệt thảm cói có hàng trên một trăm công nhân. Xưởng dệt Lưu Khánh Vân có 26 máy dệt sa và vải màu với 32 công nhân. Xưởng thêu của Trương Đình Long thuê hơn 300 công nhân. Ngoài ra còn rất nhiều xí nghiệp hoặc nhà buôn xuất hiện thời kỳ này như xưởng dệt chiếu và thảm của công ty Nam Trinh, hãng nước mắm Vạn Vân, nhà máy ép dầu của công ty Đinh Xuân Mai, nhà máy làm vỏ hộp của Ích Phong ở Thuỵ Khuê năm 1924 cũng có cả một lò nấu gang và sản xuất các dụng cụ bằng sắt, gang, xưởng cưa máy Yên Mỹ của Nguyễn Đình Phẩm, các hãng xe cao su lớn của Hưng Ký, Nguyễn Thị Hảo, Vũ Văn Giang, Nguyễn Huy Hợi, xưởng sơn của công ty Hiệp Ích chế đủ mọi thứ sơn màu để sơn ô tô, xe tay, xe ngựa và các đồ gỗ, hãng chè Tiên Long, nhà máy gạch Hưng Ký, các nhà in Lê Văn Tân, Tân Dân, Thuỵ Ký, Kim Đức Giang, Mạc Đình Tư, Nghiêm Hàm…

Lại do bị sự chèn ép cạnh tranh của tư bản ngoại quốc, ý thức tư sản dân tộc nảy nở trong giới tư sản Việt Nam. Họ kêu gọi nhau phát triển các nhà máy xưởng thợ để sản xuất các hàng nội hoá thay thế cho hàng ngoại hoá. Do đấy một số hội và công ty Việt Nam đã được thành lập ở Hà Nội như: Hội Công thương đồng nghiệp với mục đích thắt chặt mối quan hệ nghề nghiệp giữa các công thương gia Việt Nam cả về vật chất lẫn tinh thần, có chi hội ở nhiều tỉnh trong Nam ngoài Bắc; Công ty trách nhiệm tập cổ Hiệp Ích sản xuất những hàng tráng gương, đồ sơn ta và có bán ra các nước ngoài; còn có cả Công ty tập cổ Ích Hữu thư xã kinh doanh xuất bản để duy trì tạp chí Hữu Thanh là cơ quan ngôn luận của giới tư sản thương nghiệp.

Trong chiến tranh 1939 – 1945

Khi chiến tranh nổ ra, các nhà tư sản công nghiệp gặp khó khăn về nguyên liệu nhập ngoại. Một số chuyển sang sử dụng nguyên liệu trong nước nên sản phẩm có kém về chất lượng do đó tiêu thụ chậm. Sản xuất bị trì trệ. Chỉ tầng lớp tư sản mại bản là kiếm chác lớn. Họ dựa vào thực dân, phát xít làm đại lý độc quyền nhập và xuất những mặt hàng nhu yếu phẩm và phục vụ chiến tranh, thu những món lời kếch xù. Một số khác chủ yếu kiếm lời bằng đầu cơ tích trữ, bán hàng theo giá chợ đen.

Tóm lại, trong chiến tranh một số lớn tư sản ở Hà Nội cũng có cơ hội làm giàu tuy so với tư sản ngoại quốc thì không sánh được. Song họ vẫn chịu sự bóc lột về thuế khoá nặng nề của chính quyền thực dân và sự chèn ép của tư bản Pháp, Nhật nên một số bị phá sản (chủ yếu là về các ngành công nghiệp), một số giàu tinh thần dân tộc thì dễ dàng ngả theo phong trào nhân dân chống Pháp, Nhật như các nhà tư sản Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô,…

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*