Hà Nội khôi phục kinh tế, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội (1954 – 1965)

Cũng trong thời kỳ này Hà Nội đã không ngừng xây dựng, mở rộng thành phố cùng với các công trình công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá, giáo dục, y tế… Thành phố chú trọng các công trình phúc lợi tập thể phục vụ đời sống nhân dân lao động. Đã xây dựng thêm 5 vạn m2 nhà ở, sửa chữa nhà ở tại nhiều xóm lao động, mở rộng và nâng cấp đường giao thông, tự sửa đê, kè, cống, rãnh. Nhiều công trình lớn được xây dựng như Công viên Thống Nhất, khu nhà ở Kim Liên…

Khôi phục kinh tế (1955-1957)

Hà Nội được giải phóng. Thành phố đứng trước nhiều khó khăn. Về kinh tế, Hà Nội khi đó là một thành phố tiêu thụ, thương nghiệp là hoạt động kinh tế chính. Vào đầu năm 1955, chỉ có 18 xí nghiệp (9 cũ và 9 chuyển từ vùng tự do về). Các cơ sở này sớm ổn định và đi vào sản xuất. Năm 1957, sản lượng điện tăng 32% so với năm 1955. Xí nghiệp Nước lắp đặt thêm 28 km đường ống dẫn nước. Một số nhà máy được xây dựng: Gỗ dán Cầu Đuống, Diêm Thống Nhất, Cao su, Xà phòng… đặc biệt là nhà máy Cơ khí Hà Nội, con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại. Đến năm 1957, tổng số xí nghiệp quốc doanh là 45 cơ sở với trên 9.000 công nhân. Các cơ sở thủ công và công nghiệp tư doanh được Nhà nước khuyến khích cho vay vốn, bán cho nguyên liệu, máy mọc, mua hàng… Năm 1957, có 13.516 hộ sản xuất thủ công với 42 nghìn người và 957 cơ sở sản xuất công nghiệp tư doanh với trên 8 nghìn công nhân. Cũng trong thời gian này, một số hợp tác xã thủ công nghiệp đã hình thành…

Về thương nghiệp, từ 1955 thương nghiệp tư nhân được tổ chức lại, như thành lập các đại lý kinh tiêu hoặc vận động tiểu thương chuyển sang sản xuất. Thương nghiệp quốc doanh từng bước chiếm lĩnh thị trường. Từ 3 công ty (Bách hoá, Lương thực, Lâm thổ sản) đến năm 1957 đã có 10 công ty với 55 cửa hàng. Từ năm 1956, nhiều hợp tác xã mua bán ở ngoại thành được thành lập.

Về nông nghiệp, ngoại thành tiến hành cải cách ruộng đất nhanh gọn, đến đầu năm 1956 hoàn thành. Ba vạn mẫu ruộng được chia cho nông dân. Diện tích cấy trồng, năng suất và sản lượng ngày một tăng. So với năm 1954, diện tích trồng lúa tăng 126%, khoai tăng 127%, rau xanh 298%… Sản lượng lúa năm 1955 đạt 14.314 tấn, năm 1956 là 24.000 tấn, năm 1957 do hạn hán kéo dài nên sản lượng giảm còn 11.713 tấn.

Cùng với việc khôi phục sản xuất, nông dân ngoại thành bước đầu tổ chức vào co đường làm ăn tập thể dưới hình thức đổi công.

Văn hoá, giáo dục, y tế: Sau ngày giải phóng, Hà Nội chỉ có 4 trường trung học, 96 trường tiểu học. Giáo dục đại học chỉ có trường Văn khoa và trường Y dược. Gần 90% dân số Thủ đô mù chữ. Trước tình hình đó, thành phố chủ trương phục hồi nhanh chóng hoạt động của các trường học. Cuối năm 1955, trường cấp I, cấp II được thành lập ở những khu đông dân lao động. Tháng 3-1955, trường phổ thông cấp III được thành lập. Năm học 1956-1957, các trường phổ thông được xây dựng thành hệ thống trường 10 năm. Các trường mẫu giáo và vỡ lòng cũng sớm được tổ chức. Năm học 1956-1957, có 33 lớp mẫu giáo và 371 lớp vỡ lòng. Các lớp học bổ túc văn hoá, bình dân học vụ cũng được tổ chức ở các công sở, xí nghiệp, nhà máy,khu lao động. Hệ thống các trường đại học và trung học chuyên nghiệp được xây dựng. Nhiều trường mới: đại học Tổng hợp, đại học Sư phạm, đại học Bách khoa, trung cấp Sư phạm…

Về công tác y tế từ một số bệnh viện, phòng khám ít ỏi sau ngày tiếp quản và những cơ sở y tế chuyển về từ vùng kháng chiến, ngành y tế đã tích cực hoạt động phục vụ nhu cầu phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Năm 1957 chính quyền nhân dân xây dựng một bệnh viện thành phố – Bệnh viện Bích Câu – 40 giường. Tại các khu phố, nhà máy, xí nghiệp có trạm xá, phòng khám. Từ cuối năm 1956, mạng lưới y tế cũng được xây dựng ở các xã ngoại thành.

Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao. Các rạp chiếu bóng, rạp hát, được nâng cấp, phụ vụ người dân lao động. Thủ đô cũng nhiều lần được đón tiếp và thưởng thức tài năng nghệ thuật của các đoàn ca múa các nước bạn sang thăm và biểu diễn tại Việt Nam.

Xây dựng chính quyền: Từ cuối năm 1955, tổ chức chính quyền cơ sở được xây dựng theo phân cấp hành chính. Hà Nội được chia làm 9 quận, 4 quận nội thành là các quận 1,2,3,4 và 5 quận ngoại thành là các quận 5,6,7,8,9. Mỗi quận có một ban cán sự đảng và một uỷ ban hành chính. Ngày 24-11-1957, các cử tri Hà Nội tưng bừng phấn khởi tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố. Hội đồng nhân dân thành phố đã bầu ra uỷ ban hành chính gồm 11 vị do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch. Đây là cuộc bầu cử đầu tiên ở Hà Nội sau tổng tuyển cử bầu Quốc hội ngay 6-1-1946.

Trên lĩnh vực tư tưởng, đông đảo thanh niên, trí thức, công nhâ và nhân dân lao động đã kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện sai trái của một số văn nghệ sĩ, trí thức xa rời cuộc sống, giảm sút lòng tin vào chế độ mới, thể hiện trên các báo Nhân văn, Giai phẩm.

Cải tạo và phát triển kinh tế (1958-1960)

Trong những năm này, công nghiệp tư bản tư doanh đã phát triển. Năm 1958, Hà Nội có 499 hộ tư sản công nghiệp với hơn 5.000 công nhân, chủ yếu ở các ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Việc cải tạo công nghiệp tư sản tư doanh được tiến hành trong các năm 1958 – 1960. Trong các xí nghiệp công tư hợp doanh, tư liệu sản xuất và tài sản được xã hội hoá nhưng người sở hữu cũ vẫn được hưởng lợi tức cổ phần. Các nhà tư sản và gia đình được giải quyết việc làm hợp lý.

Về thương nghiệp, tư bản tư doanh có mặt tích cực góp phần phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân nhưng cũng có mặt tiêu cực như đầu cơ, tích trữ, dìm giá, nâng giá.

Đầu năm 1959, thí điểm đưa 6 hộ vào công tư hợp doanh. Đến cuối năm 1960, công việc cải tạo hoàn thành, gồm 412 hộ. Các nhà tư sản và gia đình được sắp xếp công việc trong hệ thống công tư hợp doanh đó.

Công việc hợp tác hoá thủ công nghiệp và tiểu thương cũng được tiến hành. Năm 1958, Ban vận động hợp tác hoá thủ công nghiệp ra đời. Năm 1960, phần lớn ngành thủ công nghiệp đã tham gia các hình thức làm ăn tập thể, chiếm 95% số người lao động, trong đó có 900 hợp tác xã.

Đối với các tiểu thương, đến cuối năm 1958, Hà Nội đã có 815 tổ hợp tác với 8.511 hộ. Đến năm 1960, thành phố mở 5 đợt vận động hợp tác hoá tiểu thương, 95% số người được đưa vào con đường tập thể.

Về nông nghiệp, sau cải cách ruộng đất, nông dân ngoại thành được hướng dẫn từng bước đi vào con đường làm ăn tập thể. Từ phong trào tổ đổi công tiến lên hợp tác xã nông nghiệp. Tháng 6-1958 HTX Đại Từ (Thanh Trì) ra đời. Đây là HTX nông nghiệp đầu tiên của Hà Nội. Đến năm 1960, đã có 279 HTX nông nghiệp với 19/521 hộ nông dân,đạt tỷ lệ 89% lao động và 82% diện tích cấy trồng trong đó có 33 hợp tác xã bậc cao.

Về công nghiệp, nhiều xí nghiệp nhà máy được đổi mới trang thiết bịc. Nhiều cơ sở mới được xây dựng: Dệt kim Đông Xuân, khu công nghiệp Thượng Đình… Hầu hết các xí nghiệp đều hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất. Năm 1959, giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh tăng 49% so với năm 1958.

Các xí nghiệp công tư hợp doanh sau khi được sắp xếp tổ chức lại đã góp phần đẩy mạnh sự tăng trường công nghiệp Thủ đô. Tổng giá trị sản lượng tăng 24,6% so với năm 1958. Sang năm 1960, tiếp tục cải tiến quản lý xí nghiệp, đẩy mạnh phong trào thi đua nâng cao năng suất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch. Nhà máy diêm Thống Nhất hoàn thành kế hoạch 3 năm (1958 – 1960) trước thời hạn 6 tháng 3 ngày, đạt danh hiệu đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua ngành công nghiệp Hà Nội.

Thương nghiệp quốc doanh ngày càng giữ vai trò làm chủ thị trường. Từ năm 1959, thương nghiệp quốc doanh đã mở rộng kinh doanh những mặt hàng trọng yếu như tư liệu sản xuất nông nghiệp, vật liệu xây dựng, phương tiện vận tải thô sơ.

Văn hoá – xã hội

Cũng trong thời kỳ này Hà Nội đã không ngừng xây dựng, mở rộng thành phố cùng với các công trình công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá, giáo dục, y tế… Thành phố chú trọng các công trình phúc lợi tập thể phục vụ đời sống nhân dân lao động. Đã xây dựng thêm 5 vạn m2 nhà ở, sửa chữa nhà ở tại nhiều xóm lao động, mở rộng và nâng cấp đường giao thông, tự sửa đê, kè, cống, rãnh. Nhiều công trình lớn được xây dựng như Công viên Thống Nhất, khu nhà ở Kim Liên…

Đời sống văn hoá của nhân dân được nâng cao. Các văn nghệ sĩ được học tập đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái đi đến các công trường, nhà máy, hợp tác xã để thâm nhập thực tế và phản ánh trong sáng tác những biến đổi của quần chúng lao động, góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, nếp sống mới. Nhiều rạp chiếu bóng, rạp hát, sân vận động, hiệu sách, thư viện được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng. Ngày 6-9-1958, đài phát thanh Mễ Trì do Liên Xô giúp đỡ xây dựng với 2 tháp sắt cao 105 m đã khánh thành và đi vào hoạt động.

Công tác giáo dục phát triển về bề rộng và đi dần vào chiều sâu. Ngày 8-10-1959, Thủ đô Hà Nội đã được Ban thường trực Quốc hội tặng cờ Xoá nạn mù chữ thành công. Trên cơ sở thanh toán nạn mù chữ, thành phố chủ trương đẩy mạnh phong trào bổ túc văn hoá và xây dựng hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa gồm các trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp.

Mạng lưới y tế được xây dựng rộng khắp các khu phố và vùng nông thôn ngoại thành. Nhân dân hưởng ứng phong trào vệ sinh phòng bệnh. Về cơ sở điều trị, Thủ đô Hà Nội có 3 bệnh viện với 585 giường, 30 phòng khám bệnh phát thuốc, 7 phòng chuyên khoa trị lao, chữa mắt, da liễu, răng, chiếu X quang, xét nghiệm và hàng trăm nhà hộ sinh, trạm y tế, hợp tác xã trồng răng, nhà thuốc đông y.

Công tác thể dục thể thao được chú trọng. Phong trào rèn luyện thân thể để phục vụ sản xuất và chiến đấu phát triển sâu rộng khắp các đường phố, công trường, nhà máy và vùng nông thôn ngoại thành.

Công tác xây dựng chính quyền được đặc biệt coi trọng để giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo tập trung, thống nhất mọi hoạt động của nhân dân thành phố.

Hệ thống chính quyền và các đoàn thể quần chúng được củng cố thêm một bước vững chắc. Tháng 9-1958 thành phố tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính cấp cơ sở. Ở nội thành, đơn vị hành chính thu gọn từ 33 khu phố năm 1958, còn 8 khu phố năm 1959. Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính các cấp phát huy tác dụng tích cực trong công tác quản lý thành phố, từng bước thực hiện chức năng của nhà nước pháp quyền, chính quyền của dân, do dân và vì dân.

Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tích cực đoàn kết, động viên các tầng lớp nhân dân, tư sản, trí thức, Hoa kiều, đồng bào các tôn giáo hăng hái tham gia xây dựng Thủ đô.

Hà Nội thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)

Năm 1961, dù việc cung cấp vật tư nguyên liệu thiếu, không kịp thời, giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh vẫn tăng: công nghiệp trung ương tăng 42% và công nghiệp địa phương tăng 17% so với năm 1960. Trước tình hình xuất hiện những hiện tượng lỏng lẻo trong quản lý, vi phạm kỷ luật lao động, tham ô lãng phí trong các xí nghiệp, Nhà nước chủ trương phát động cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, chống tham ô lãng phí. Năm 1962, sản xuất công nghiệp thành phố tiếp tục phát triển, giá trị tổng sản lượng tăng 32% so với năm 1961. Sản phẩm phong phú về chủng loại: máy công cụ cắt gọt chính xác, máy chuyên dùng, máy cho nông – công nghiệp, giao thông vận tải, hàng tiêu dùng… Từ cuối năm 1964, Mỹ đưa chiến tranh ra miền Bắc. Mặc dù phải sơ tán, phân tán, giá trị sản lượng công nghiệp Hà Nội năm 1965 đạt 112% so với năm 1964. Một số xí nghiệp mới được xây dựng trên địa bàn thành phố: Thiết bị lạnh Hà Nội, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Phân lân Văn Điển, Dệt 8-3, Điện cơ Thống Nhất, Đại tu ô tô Cự Chính, Cơ khí Mai Động…

Về thủ công nghiệp, các hợp tác xã được củng cố, mở rộng quy mô. Năm 1961, sáp nhập các tổ sản xuất thành 161 hợp tác xã, trong đó có 96 hợp tác xã bậc cao. Năm 1962 có thêm 199 hợp tác xã bậc cao, có tác dụng đẩy mạnh sản xuất.

Về nông nghiệp, từ năm 1961, ngoại thành mở rộng lần thứ nhất, gồm 4 huyện với diện tích canh tác 36 nghìn ha, bao gồm 101 hợp tác xã nông nghiệp. Thành phố coi trọng công tác thuỷ lợi. Năm 1962, hoàn thành cống qua đê Cống Thôn, dẫn tưới nước cho trên 1 vạn ha lúa màu huyện Gia Lâm. Năm 1963, hoàn thành công trình thuỷ nông Ấp Bắc – Nam Hồng đủ tưới cho hàng vạn ha lúa màu huyện Đông Anh. Các đội thuỷ lợi được lập hầu hết các xã. Điện được đưa về ngoại thành phục vụ bơm nước chống hạn. Năm 1963, thành phố tiến hành cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Nội dung chủ yếu là giúp các hợp tác xã nông nghiệp xác định phương hướng sản xuất, lập kế hoạch, cải tiến quản lý lao động, thực hiện định mức lao động, quản lý tài chính…

Về thương nghiệp, thành phố chú trọng phát triển thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Mậu dịch quốc doanh nắm nguồn hàng, tăng cường quản lý thị trường.

Năm 1962, ra đời Công ty Kinh doanh hàng xuất khẩu thu gom các mặt hàng tạp phẩm, thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến… Cuối năm 1965, thương nghiệp quốc doanh đã chiếm lĩnh 85% mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá. Mạng lưới phân phối của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán được mở rộng. Nói chung, hoạt động thương nghiệp Hà Nội thời kỳ 1961-1965 đã tích cực góp phần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các vùng dân cư, các khu vực kinh tế, tăng cường quan hệ thành thị – nông thôn.

Văn hoá xã hội

Thành phố chủ trương đẩy mạnh phong trào văn hoá quần chúng, lấy phong trào văn hoá quần chúng để đưa văn hoá đến quần chúng, vận động quần chúng tham gia sáng tác văn hoá, nghệ thuật. Hoạt động văn nghệ được coi là cốt lõi của phong trào văn hoá quần chúng. Toàn thành phố đã thành lập nhiều tổ, đội ca múa nhạc, kịch nói, chèo, cải lương như các đội kịch nói của Thành đoàn thanh niên, Liên hiệp công đoàn, sở Công an, đội cải lương của Liên hiệp xã Thủ công của khu Hai Bà Trưng, đội chèo Hồng Hà của khu Hoàn Kiếm… Ở ngoại thành cũng xuất hiện nhiều xã có phong trào văn hoá vững mạnh như các xã Giang Biên, Phù Đổng, Xuân Đỉnh, Thanh Liệt… Thành phố mở cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới, với nội dung là xây dựng gia đình 5 tốt được nhân dân Hà Nội hưởng ứng.

Ngành giáo dục được phát triển toàn diện bao gồm bổ túc văn hoá, giáo dục phổ thông, mẫu giáo và các trường chuyên nghiệp, dạy nghề.

Phong trào mở lớp dạy và theo học bổ túc văn hoá đã phát triển sâu rộng trên khắp các vùng nội, ngoại thành, trong các nhà máy, xí nghiệp, công nông trường, doanh trại quân đội… Ngành mẫu giáo, vỡ lòng đã phát triển rộng khắp, đại bộ phận các cháu ở độ tuổi mẫu giáo, vỡ lòng đều được tới lớp học. Về giáo dục phổ thông, tiếp tục thực hiện phổ cập cấp I, thoả mãn yêu cầu học tập ở lớp đầu cấp II, mở thêm các lớp cấp III. Cùng với giáo dục phổ thông, thành phố quan tâm đến việc xây dựng, phát triển loại hình trường sở trung cấp chuyên nghiệp thuộc các ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp, y tế, văn hoá, thương nghiệp… nhằm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý cơ sở cho những nhu cầu phát triển sản xuất của các địa phương.

Về y tế, thành phố đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phát triển hình thức chữa bệnh ngoại trú, phối hợp Đông y và Tây y, vận động phong trào đào giếng nước ăn ở nông thôn, xoá bỏ thói quen bón phân tươi, chống bệnh đau mắt hột, bệnh giun sán. Nhân dân ở nhiều nơi đã làm hố xí hợp vệ sinh, đào giếng, xây bể ủ phân, giữ gìn hố xí sạch trở thành ý thức của nhân dân. Toàn thành phố đã phát động phong trào diệt ruồi, phong trào phòng dịch, diệt dịch. Ngoài bệnh viện Bích Câu có từ 1957, tới 1963 y tế Hà Nội lập thêm 7 bệnh viện: Đông y, B, C, Gia Lâm, Hoàn Kiếm, Đông Anh, Tai mũi họng và 8 bệnh xá ở các huyện hoặc chuyên khoa (mắt, tâm thần, da liễu).

Xây dựng chính quyền

Ngày 31-5-1961, Hội đồng Chính phủ quyết định tổ chức hành chính của Hà Nội gồm bốn khu phố nội thành là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng và bốn huyện ngoại thành là Thanh Trì, Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm.

Bộ máy chính quyền gồm có hội đồng nhân dân, uỷ ban hành chính, toà án, viện Kiểm sát và một số cơ quan chuyên môn. chính quyền nhân dân coi trọng mở rộng dân chủ. Những biểu hiện vi phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân được khắc phục. Trên cơ sở quan hệ sản xuất mới được củng cố, ý thức làm chủ của nhân dân được nâng cao: Quyền khiếu tố của công dân được tôn trọng.

Cùng với mở rộng dân chủ, chính quyền đã phát huy chức năng chuyên chính đối với các thế lực chống lại nhân dân, bọn gián điệp tay sai đế quốc, những kẻ phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Một sự kiện chính trị – lịch sử quan trọng: trước tình hình Mỹ chuyển từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ, sẵn sàng leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân, ngày 27-3-1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt: Đây là bước chuẩn bị quan trọng về tư tưởng cho nhân dân ta bước vào cuộc chiến đấu mới đầy hy sinh song tất thắng.

Tới ngày 5-8-1964, máy bay Mỹ ồ ạt ném bom bắn phá Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình. Quân dân Thủ đô Hà Nội cũng hăng hái quyết tâm sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới. Ngày 9-8-1964, Thành đoàn Hà Nội phát động phong trào ba sẵn sàng trong thanh niên. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra toàn miền Bắc. Hưởng ứng chủ trương của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Hà Nội cũng hăng hái thi đua trong phong trào ba đảm đang. Được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, công việc chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã được nhân dân Thủ đô Hà Nội thực hiện triệt để.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

1 Comment on Hà Nội khôi phục kinh tế, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội (1954 – 1965)

  1. Chào bạn, bạn có thể cho mình một số tư liệu về đời sống thực hàng ngày của người dân HN thời kỳ này hay không? Ví dụ những hàng quán món ngon ngày đó, công việc của người dân và thu nhập, lối sống của họ?
    Rất cảm ơn bạn.

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*