Đời sống đô thị thời Nguyễn

Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn với hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, gần tương đương với nội thành Hà Nội ngày nay: Thọ Xương tương đương với quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng, Vĩnh Thuận tương đương với quận Ba Đình và quận Đống Đa. Đời Gia Long, Thọ Xương có 194 phường, thôn thuộc 8 tổng, Vĩnh Thiện có 56 phường, thôn, trại, thuộc 5 tổng. Cuối đời Minh Mạng, do sự thay đổi về hành chính, một số thôn nhỏ được sát nhập lại và tổng số phường, thôn có giảm bớt. Thọ Xương còn 116 phường, thôn; Vĩnh Thuận có 27 phường, thôn. Số dân Hà Nội vào giữa thế kỷ XIX, theo ước đoán của một số tác giả nước ngoài, khoảng từ 100.000 đến 150.000 người.

So với những thế kỷ trước, sự phát triển kinh tế của Thăng Long – Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX không được đồng đều. Các phường, thôn, trại, phía tây và phía nam có xu hướng nông thôn hóa chuyên về nông nghiệp hoặc kết hợp một số nghề thủ công cổ truyền. Khu Giảng Võ và cả một phần phía tây kinh thành cũ bị đưa ra khỏi thành, nay tổng nội gồm 9 thôn, trại nông nghiệp, mang nặng tính chất nông thôn. Bộ mặt thành thị của Thăng Long – Hà Nội hầu như dồn về phía đông và mở rộng thêm về phía đông – nam. Đó là khu vực gần tương đương với quận Hoàn Kiếm ngày nay. Sách Đại Nam nhất thống chí đời Nguyễn ghi nhận: “Ở quanh phía đông-nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật cũng phồn thịnh”. Khu vực này, phố phường dọc ngang như bàn cờ, nhà cửa san sát, cư dân đông đúc. Các đường phố phần nhiều lát gạch ở lòng đường, rộng chừng 1 m, nhưng cũng có phố, như phố Hàng Ngang “lát bằng những phiến đá cẩm thạch lớn” (A.Bourrin – Le vieux Tonkin, H. 1941, tr. 36). Cụm kiến trúc Phủ Chúa đã bị phá hủy và vùng xung quanh hồ Hoàn Kiếm cũng nhanh chóng trở thành khu dân cư đông vui với phố Hàng Thêu (Hàng Trống), với nghề tiện từ Nhị Khê lên, nghề thuộc da và đóng giầy từ Trúc Lâm (Hải Dương) đến…

Khu trung tâm buôn bán-thủ công của Hà Nội thế kỷ XIX là khu nằm ở giữa tỉnh thành và bờ sông Hồng. Khu này là một hình tam giác có đỉnh là góc thành đông-nam (chỗ phố Cửa Nam ngày nay) và đấy là đoạn đê sông Hồng có độ dài khoảng 3 km. Hai cạnh bên, mỗi cạnh dài khoảng 2,5 km, một cạnh là chính bức tường phía đông của thành, còn cạnh kia đi sát phía Bắc Hồ Gươm ra đến sông Hồng (tương đương với các phố Hàng Bông – Hàng Gai – Cầu Gỗ – Lò Sũ ngày nay). Khu vực ấy, nằm trên mảnh đất mà bây giờ ta quen gọi là “Khu phố cổ”. Các phố phường chợ búa tập trung chủ yếu ở khu vực này.

Một khu vực khác, trước kia là khu quan liêu-chính trị, nay chuyển thành khu dân cư, đó là các giải đất chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Khu vực này nếu như trong các thế kỷ XVII-XVIII đã từng là một nơi nguy nga tráng lệ với các cung điện, dinh thự ban đầu của vua Lê, chúa Trịnh, thì bây giờ nó đã thay đổi diện mạo. Các công trình kiến trúc xưa kia đều trở nên hoang phế sau những cơn binh lửa. Một vài công trình mới mang tính chất tôn giáo và văn hóa được dựng lên.

Quần thể kiến trúc văn hóa-lịch sử Ngọc Sơn bắt đầu được xây dựng vào các năm 1841, 1842 dưới thời Thiệu Trị (1841-1847). Chùa Ngọc Sơn được xây trên một gò đảo nổi giữa Hồ Gươm, nơi đây vốn là cung Thụy Khánh được dựng theo lệnh chúa Trịnh Giang dưới thời Lê Vĩnh Hựu (1735-1739). Trên gò và đắp ở bờ hồ phía đông hai núi đất đối diện với chùa Ngọc Sơn gọi là núi Ngọc Bội, và núi Đào Tai. Năm 1843, chùa giao cho một hội thiện quản trị và đổi làm đền thờ Văn Xương đế quân – và thờ Tam Thánh (sau này vào đầu thế kỷ XX, có thờ thêm Đức thánh Trần (Trần Quốc Tuấn). Vào hai năm 1864, 1865, danh sĩ Bắc Hà, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa lại đền và tạo dựng thêm một số công trình văn hóa cho quần thể di tích này. Nguyễn Văn Siêu cho bắc một chiếc cầu bằng gỗ nối liền đền với hai núi đất Đào Tai và Ngọc Bội. Cầu làm theo kiểu bán nguyệt. Lúc bấy giờ, từ đền Ngọc Sơn ra đền bờ sông chưa có nhà cửa mà chỉ có một bãi dâu rộng mênh mông, do đó ánh nắng ban sớm chiếu xiên từ ngoài sông vào mặt hồ và vào cầu. Vì thế mà Nguyễn Văn Siêu, đặt tên cầu là “Cầu Thê Húc”, ngụ ý là: “Ánh mặt trời ban mai đậu vào cầu”.

Danh sĩ Nguyễn Văn Siêu khi sửa lại đền Ngọc Sơn đã chú trọng đặc biệt đến việc thờ thần Văn Xương là vị thần coi việc văn chương khoa cử. Ngoài cổng vào, trên núi Đào Tai, ông cho xây một ngọn tháp cao sừng sững bằng đá xanh, hình cái bút lông, gọi là Tháp Bút, thân tháp viết 3 chữ lớn: “Tả thanh thiên” (Viết lên trời xanh), ngụ ý văn chương cần viết những gì cao đẹp, khí phách. Ở cổng phía trong, xây một cái bể con hình cái nghiên mực, gọi là Đài Nghiên. Ở cổng ngoài đi vào đền, có hai bức tường hình bảng rồng và bảng hổ, tượng trưng cho hai thứ bảng vàng, nêu tên những người đỗ trong các khoa thi. Đặc biệt, trước cửa đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu cho xây ngôi đình hình tứ giác, gọi là đình Trấn Ba (đình Chắn Sóng), ngụ ý ngăn chặn những đợt sóng văn hóa không lành mạnh đánh vào Ngôi đền văn hiến của đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Người xưa quả là suy nghĩ thật sâu sắc! Trên cột đình, có khắc đôi câu đối:

Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy

Văn tòng đại khối thọ như sơn.

(Nghĩa là:

Kiếm sót khí thiêng ngời tựa nước

Văn cùng trời đất thọ như non).

Năm 1842, trên nền cũ của lầu Ngũ Long, Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình) Nguyễn Đăng Giai cho xây dựng ngôi chùa Báo Ân. Chùa xây dựng với quy mô lớn, trên một khoảng đất rộng gần 100 mẫu. Mặt trước chùa trông ra sông Hồng, mặt sau chùa dựa vào hồ Hoàn Kiếm. Chùa làm hơn 4 năm mới xong, rộng 180 gian, và có 36 nóc. Chùa còn có nhiều gác chuông, tháp: Tháp Hòa Phong (đón Gió Lành) ở phía sau chùa, ngay bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hiện nay vẫn còn. Bốn mặt chùa có một hào nước uốn quanh, bao bọc lấy chùa. Trong hào có trồng sen, nên người đương thời gọi là chùa Liên Trì, và cũng có người gọi là chùa Quan Thượng, vì do một viên Tổng đốc (hàm Thượng thư) dựng lên.

Văn Miếu đã có ở Thăng Long – Hà Nội, từ thế kỷ XI (1070), được các đời sau tiếp tục tu bổ, tân trang, các vua nhà Nguyễn không động chạm tới, và đôi khi cũng tu bổ thêm. Năm 1802, Gia Long cho xây Khuê Văn Các ở Văn Miếu và bỏ nhà Thái học (phía sau Văn Miếu) làm nhà thờ Khải Thánh, để thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1809, lấy cớ Văn Miếu ở các thành phủ lấy Văn Miếu kinh sư làm chuẩn, Gia Long đưa Chu Văn An ra ngoài, không để thờ tại Văn Miếu Thăng Long nữa.

Trường thi Hương, từ thế kỷ XVIII trở về trước, đặt ở Quảng Bá, gần Hồ Tây, đến đầu thời Nguyễn được đưa về khu vực phố Trường Thi (địa điểm Thư viện Quốc gia ngày nay) đặt ở gần hồ Hoàn Kiếm. Đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), triều đình cho xây gạch xung quanh, chu vi 182 trượng 1 thước (728 m), bên trong gồm 21 tòa, đường, viện.

Năm 1813, Gia Long cho dựng Cục Bảo Tuyền ở cửa Tây Long ngoài thành (ở khoảng phố Tràng Tiền ngày nay). Lấy Cai cơ Trương Văn Minh làm Bảo Tuyền cục đại sứ, Hiệp tổng trấn Bắc Thành Lê Chất kiêm lãnh Giám đốc. Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), Cục Bảo Tuyền đổi tên thành Cục Thông Bảo.

Mặc dù, không còn giữ vị trí là kinh đô của cả nước, nhưng đời sống văn hóa của Thăng Long – Hà Nội ở thế kỷ XIX cũng không có gì giảm sút so với các thế kỷ trước. Không khí học tập ở Hà Nội vẫn sôi nổi như xưa, mặc dù có thiếu đi những kỳ thi Hội trước kia, cứ ba năm một lần tại triều đình. Nhà Văn Miếu Hà Nội vẫn là mỗi tháng đôi lần các danh nho, danh sĩ tới bình văn giảng sách như ở thời Lê-Trịnh. Khoảng giữa thế kỷ XIX, ở Hà Nội có nhiều trường tư, nhiều quán trọ được mở ra, đón học trò và kẻ sĩ khắp nơi về trọ học và đi thi.

Một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất ở Hà Nội ngày ấy là Trường Tự Tháp của ông Nghè Lỗ Am Vũ Tông Phan (1804-1862). Theo mô tả trong gia phả họ Vũ, thì khi đó trường học là một ngôi nhà năm gian dựng ngay bên mép hồ Hoàn Kiếm, tương ứng với các số nhà 14 và 16 phố Lê Thái Tổ.

Một trường khá nổi tiếng nữa là trường Phương Đình của danh sĩ Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), dấu tích còn lại ở nhà số 12 – 14 phố mang tên ông, đó là đất giáp Giang Nguyên, thôn Cổ Lương, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đây là khu nhà cũ của Thần Siêu, nơi đó ông đã mở trường dạy học. Hiện nay, số nhà 20 phố Nguyễn Văn Siêu chính là đình cũ của giáp Giang Nguyên, vẫn có kê bàn thờ ông. Và đình của thôn Cổ Lương, thì ở trong ngõ số nhà 28, từng là nơi mà học trò tứ trấn thường xin ở đậu, ngủ nhờ trong thời gian về Hà Nội, nghe thày Phương Đình giảng bài. Hoặc như ở số nhà 7 phố Tràng Thi là đất trường Vũ Thạch cũ, tức là trường của ông cử nhân làng Vũ Thạch, huyện Thọ Xương: ông Nguyễn Huy Đức (1824-1898), một nhà nho yêu nước. Ngoài ra, còn có các trường đáng kể nữa như trường của các: ông Cử Phạm Dưỡng Am ở thôn Tự Tháp (Hàng Trống); ông Đốc Mọc Lê Đình Diên ở Ô Nghĩa Dũng (Hàng Đậu); ông cử Kim Cổ Ngô Văn Dạng ở quãng phố Đường Thành. Lớp nho sinh Hà Nội của các trường nói trên, sau này đã có rất nhiều người đỗ đạt, làm nên các bậc đại thần, nhưng phần lớn vẫn tỏ lòng kính trọng và biết ơn của mình đối với người thầy cũ, như trường hợp của các Hình bộ Thượng thư Nguyễn Trọng Hợp, Lại bộ Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Khâm sai Vũ Duy Ninh đối với người thày đáng kính Vũ Tông Phan, ông Nghè Tự Tháp.

Một di tích văn hóa nữa, hiện còn lại ở Hà Nội là Văn Chỉ của huyện Thọ Xương cũ ở số nhà 222 phố Bạch Mai rẽ vào. Văn Chỉ, có nghĩa là “nền văn”. Ngày trước ở các làng xã nước ta, thường đắp một nền cao, xây ban thờ bằng gạch, làm chỗ tế lễ, các ông thánh, ông hiền của đạo Nho. Như vậy, Văn Chỉ là cái nền lộ thiên và kiến trúc rất sơ sài. Nhưng Văn Chỉ huyện Thọ Xxương còn lại đến ngày nay, được xây dựng khá quy mô, chẳng khác nào một tòa đền miếu. Do đó, có tài liệu gọi đây là Văn Từ (Đền Văn). Song cái tên Văn Chỉ đã quá quen thuộc với người dân Hà Nội rồi… Văn Chỉ này xây vào năm 1838 và đã trải qua nhiều lần sửa chữa. Hiện vẫn còn Bảng Tiên hiền, ghi tên họ những nhà nho đạo cao đức trọng là người huyện Thọ Xương hoặc di cư tới như: Vũ Thạnh, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Văn Siêu v.v…

Nói về đời sống đô thị Thăng Long – Hà Nội, chúng ta không thể không nhắc đến một yếu tố ngoại lai, một thành phần cư dân ngoại tộc, tuy về số lượng không nhiều, nhưng lại giữ một vai trò kinh tế rất quan trọng, đó là tầng lớp thương nhân Hoa kiều.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, Hoa kiều đã có mặt và sinh sống ở Thăng Long từ khá sớm, chậm nhất là vào thời Lê sơ. Vào đầu thế kỷ XV, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã có nói đến một phường “Đường nhân”, tức là những Hoa kiều sinh sống và buôn bán ở Thăng Long (nay là phố Hàng Ngang). Sự có mặt của Hoa kiều làm ăn buôn bán bên cạnh những người Việt Nam không những là một nét đặc trưng của Thăng Long – Hà Nội, mà còn là hiện tượng phổ biến trong các thành thị Việt Nam thời trung đại. Đợt di cư hàng loạt của Hoa kiều vào Thăng Long có lẽ được thực hiện vào cuối thế kỷ XVII. Từ đó đến suốt cả thế kỷ XVIII, một mặt, các Hoa kiều di cư vào Việt Nam đã cố gắng len lỏi để cư trú và làm ăn buôn bán tại kinh thành Thăng Long, nhưng mặt khác, họ cũng bị Nhà nước phong kiến nhiều lần hạn chế, cấm đoán, ngăn chặn.

Bước sang thế kỷ XIX, tình hình đã đổi khác. Nhà Nguyễn, đặc biệt là Gia Long, đã có một chính sách nhượng bộ đối với nhà Thanh, ưu đãi Hoa kiều. Mặt khác kinh đô giờ đây đã chuyển về Huế, nhà Nguyễn không cần đề phòng cẩn mật đối với Thăng Long – Hà Nội nữa. Được dịp, các Hoa kiều đã ồ ạt di cư sang Việt Nam và tràn vào Thăng Long – Hà Nội trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX, hàng năm có hàng ngàn người Trung Quốc tới Việt Nam và từ 30 – 40% số người đó đã lập nghiệp ở đất này” (Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long – Hà Nội… Sđd, tr. 159). Những người ở lại sinh sống, học tiếng Việt Nam, lấy vợ Việt Nam, trở thành người Minh Hương, một loại người Việt gốc Hoa.

Ở Thăng Long – Hà Nội, có lẽ các lái buôn Hoa kiều đã tràn ngay vào những năm đầu thế kỷ XIX. Ở hội quân Việt Đông phố Hàng Buồm trước đây có một tấm bia khắc năm 1801, có ghi: “Từ khi nhà vua mở nước cho người ngoại quốc, hàng loạt Hoa kiều đã muốn được Đức Hoàng đế gia ân, đường sá và chợ quán đầy ắp khách thương… Thành phố Thăng Long là thành phố đầu tiên của An Nam, từ lâu đã buôn bán nhiều đồ vật quý của Quảng Đông, tầu thuyền đem đến đây tất cả mọi thứ hàng hóa” (Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long – Hà Nội… Sđd, tr. 159).

Ở Việt Nam, Hoa kiều tập trung trong 4 bang chính: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hải Nam. Trong đó 2 bang Quảng Đông và Phúc Kiến bao gồm phần lớn các khách thương giàu có, và cũng là 2 bang sinh sống và lập nghiệp ở Thăng Long – Hà Nội. Bang Phúc Kiến đến định cư và lập hội quán ở phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông), cách ăn ở giữ nhiều lề thói cũ của địa phương. Bang Quảng Đông, người đông hơn, quá nửa ở phố Việt Đông hay Quảng Đông (nay là phố Hàng Ngang), một phần lớn ở phố Hàng Buồm, lan sang các ngõ xung quanh như: ngõ Sầm Công, Ngõ Gạch. Hội quán của họ được xây từ năm Canh Thân (1800) ở phố Hàng Buồm, ngoài mặt có xây hàng chữ “Việt Đông hội quán” (nhà số 22 phố Hàng Buồm), có nhiều cơ quan phụ thuộc, trường họ. Họ phần lớn là những phú thương, ở các đường phố rộng lát đá, xây nhiều cổng phố chắc chắn, xây nhiều nhà lợp ngói, to cao, và đồ đạc sang trọng.

Năm 1832, Tổng đốc Hà-Ninh Nguyễn Văn Hiếu tâu lên vua Minh Mệnh rằng: Hai phố Hàng Buồm và Quảng Đông ở huyện Thọ Xương tỉnh Hà Nội, phần nhiều là người Thanh, hiện đã gây thành cơ sở, nên các thương nhân nhà Thanh thường tới đây để buôn bán.

Cùng năm 1832, triều đình sai Hà Nội chọn đặt chức Hàng trưởng ở 2 phố Quảng Đông và Phúc Kiến, để nếu như Nhà nước có mua sản vật ở 2 tỉnh Quảng Đông và Phúc kiến, thì cứ liên hệ với hai viên Hàng trưởng ấy. Chúng ta không được biết chính xác số lượng Hoa kiều ở Hà Nội vào thế kỷ XIX, nhưng chắc chắn là đông đúc, đây là thành phố nhiều Hoa kiều nhất ở Bắc Kỳ thời bấy giờ. Đại Nam nhất thống chí nhận xét: Thành thị [Hà Nội] là nơi tụ họp công thương, có lẫn cả người nước Thanh tập tục thích xa hoa…” (Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tập III, tr. 165).

Các Hoa kiều nhập cư vào Thăng Long – Hà Nội thường là hoạt động buôn bán hàng tạp hóa (nhập từ Quảng Châu sang) như: gấm vóc, thuốc Bắc, đường và bánh ngọt, hoặc mở tiệm “Cao lâu”… Một số phú thương Hoa kiều lại tập trung vào mấy ngành buôn bán xuất nhập khẩu chính: gạo, thuốc phiện, muối, thiếc, và một số các mặt hàng khác như: tơ lụa, giấy. Tại Thăng Long – Hà Nội, đã xuất hiện quy mô của một nền buôn bán lớn với các tuyến giao lưu đường dài, hàng bán buôn và hình thức bao mua sản phẩm đối với các nông dân và tiểu chủ.

Nhưng trong việc buôn bán, thương nhân Hoa kiều cũng có nhiều mánh lới, thủ đoạn. Lợi dụng tính chuộng ngoại của thị dân Hà Nội, các Hoa thương Hà Nội đã mua tơ lụa của chính người Việt ở Hà Nội, cải biến chút ít rồi lại bán giả làm hàng Trung Quốc cũng cho người Việt.

Năm 1287, chính vua Minh Mệnh có nhận xét: Các tấm hàng gọi là sa, vân, tơ xét kỹ ra là hàng của nước nhà. Rõ ràng là người Thanh ở Hà Nội hay các tỉnh mua về đem nhuộm lại rồi in dấu khác vào, giả làm hàng của nước Thanh. Vì vậy, nhà vua đã ra lệnh cho từ nay về sau, phàm dân gian dệt được các thứ hàng tơ nam như lĩnh, lụa, sa, trừu và tơ cân, không cứ tơ sống hay tơ chín, đều không được bán cho người nhà Thanh để xuất khẩu.

Phú thương Hoa kiều còn can thiệp cả vào trong ngành thủ công nghiệp làm giấy. Ở Hà Nội, các nhà buôn Hoa kiều đã bỏ vốn ra cho các tiểu chủ ở Bưởi vay để mua nguyên liệu (vỏ cây dó), sau đó thu lời bằng thành phẩm, với những loại giấy có chất lượng và kích thước đã định sẵn. Đây chính là một loại hình thức bao mua, vì như vậy thì người thợ làm giấy vẫn chỉ là người chế tạo còn thương nhân Hoa kiều trở thành kẻ kiếm lời, họ phân phối hàng hóa tới các trung tâm tiêu thụ.

Như vậy, dựa vào số vốn lớn và những thủ đoạn buôn bán khôn khéo của mình, lợi dụng chính sách ưu đãi Hoa kiều và chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn, các Hoa thương ở Hà Nội đã tìm mọi cách nắm độc quyền trong mọi ngành xuất nhập khẩu. Mặt khác, họ cũng tìm cách lũng đoạn các ngành công thương nghiệp trong nước, khống chế các nông dân và thợ thủ công bằng hình thức cho vay vốn và bao mua sản phẩm. Trong kết cấu kinh tế-xã hội của Thăng Long – Hà Nội, họ chính là tầng lớp đại phú thương thành thị, một tầng lớp “tài phiệt” đang trên đà phát triển thành tầng lớp tư sản, tức như một số tầng lớp “tiểu tư sản”.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*