Xây dựng kinh thành thời Trần

Kinh thành Thăng Long đời Trần, về cơ bản, không có gì khác lắm so với kinh thành thời Lý. Ngoài việc xây dựng ở bên trong hoàng thành, nhà Trần trong 175 năm (1225-1400) tồn tại vừa trùng tu công trình cũ, vừa xây dựng mới một số công trình kiến trúc ở Thăng Long.

Trên bờ nam sông Nhị Hà (sông Hồng), năm 1237, vua Trần đã cho tu tạo điện Linh Quang ở bến Đông Bộ Đầu (khoảng từ dốc Hàng Than đến cầu Long Biên) gọi là điện Phong Thủy. Mỗi khi xa giá của vua từ hoàng thành đi ra, trú chân ở đó, các quan đưa đón tất dâng trầu cau và trà, cho nên tục gọi là điện Hô Trà (Gọi Chè).

Năm 1243, nhà Trần cho trùng tu Quốc tử giám, và đến năm 1253, lập Viện Quốc học. Tháng 9 năm đó, xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Viện Quốc học giảng Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh tử), Ngũ kinh (Thi-Thư-Lễ-Dịch-Xuân-Thu). Thăng Long đời Trần vừa sùng văn vừa trọng võ. Năm 1253, nhà Trần cho lập Giảng võ đường, vương hầu tôn thất đều phải đến đó luyện rèn võ nghệ.

Về chùa, quán, không thấy sử chép nhà Trần có xây dựng những chùa quán lớn ở kinh sư. Dưới thời Trần, chùa quán ở Thăng Long phần lớn được trùng tu, tôn tạo. Như năm 1249, trùng tu chùa Diên Hựu (Một Cột), vua xuống chiếu vẫn theo lệ cũ nhà Lý, chùa sửa xong, đại xá cho dân…

Việc xây dựng ở kinh thành, sử cũ chỉ chép sơ sài như vậy. Từ những cứ liệu tản mạn, có thể hình dung đại khái cảnh trí kinh đô Thăng Long thời Trần như sau:

a) Một quần thể kiến trúc, bao gồm các cung điện lầu gác trong hoàng cung: Trong thành nội, từ năm 1230, lập cung điện, lầu gác làm nơi thiết triều, phía đông, phía tây làm hành lang giải vũ. Bên trái là cung Thánh Từ, nơi Thượng hoàng ở, bên phải là cung Quan Triều, nơi vua ở.

Năm 1243, xây nội thành, gọi là thành Long Phương. Nguyên sử chép về thành Long Phương khi quân Nguyên chiếm năm 1285 như sau: “Cung thất có 5 cửa, trên đề “Đại Hưng Môn”, có cửa nách ở bên phải và bên trái. Chính điện có 9 gian, đề “Thiên An Ngự Điện”, cửa chính nam đề “Triều Thiên Các”.”. Đoạn trên đây, Nguyên sử ghi chép quá sơ sài và lộn xộn. Trong thực tế, cửa Đại Hưng là cửa nam của hoàng thành, ở khoảng chợ Cửa Nam bây giờ. Cửa làm theo kiểu tam quan lại kèm thêm hai cửa nách ở bên phải và bên trái, nên gọi là 5 cửa. Trên cửa có bậc. Qua cổng nam của hoàng thành, đi sâu vào bên trong, phải qua một cổng nữa rồi mới tới chính điện của hoàng cung. Cổng đó cũng ở chính nam, gọi là Dương Minh Môn; trên cổng có gác, gọi là Triều Thiên Các. Cửa nách bên trái gọi là Nhật Tân Môn, cửa nách bên phải gọi là Vân Hội Môn.

Ngoài các cung điện được mô tả ở trên, trong hoàng cung còn nhiều cung điện khác. Điện Diên Hồng, nơi diễn ra Hội nghị Diên Hồng nổi danh trong lịch sử. Điện Diên Hiền, điện Bát Giác nơi vua thiết yến các quan. Vọng Lâu, nơi vua ngự xem lính đấu nhau với voi, hổ, chuồng hổ đặt ngay dưới lầu.

Ngoài điện là nơi công sở, còn có các cung là nơi ở, cung thượng hoàng ở gọi là Thánh Từ hay Phụ Thiên, Vạn Thọ; cung vua ở gọi là Quan Triều; cung cung nữ ở gọi là Lệ Thiên, Thưởng Xuân; Sừ Cung là cung của thái tử… Ngoài ra còn có các cung Thượng Liễn là nơi lưu trữ các bản tấu.

Trong hoàng cung có nhiều vườn cây ăn quả, vườn hoa, hồ, ao, có cầu bắc qua làm nơi vua và cung nhân thưởng ngoạn. Bao quanh hoàng thành là sông Tô Lịch và chi nhánh, dùng làm hào. Sử chép trên sông Tô Lịch có dựng 5 cái cầu, kiến trúc gạch, gỗ, đều cao và đẹp.

b) Khu cảng Đông Bộ Đầu vẫn là nơi có cụm kiến trúc to đẹp của triều đình. Vì đấy là quân cảng, là nơi diễn tập thủy chiến, là nơi tổ chức hội nước mùa thu. Ngoài ra, nhà Trần còn chú ý tu sửa, chăm sóc nâng cấp các khu đền Đồng Cổ, khu đền Hai Bà Trưng, khu Chùa Vua, khu Hồ Tây là nơi du ngoạn và có hành cung xem đánh cá v.v…

c) Khu phường phố kinh thành:

Năm 1230, nhà Trần cho định lại các phường về hai bên tả, hữu kinh thành. Tả tức phía đông, hữu tức phía tây. Ở đây, không nói đến khu vực phía bắc và phía nam kinh thành, có lẽ, bấy giờ hai khu này dân cư còn thưa thớt. Sử cũ chép: “Tháng 3 năm Canh Dần (1230): Định các phường về hai bên tả, hữu của kinh thành, bắt chước đời trước (tức đời Lý – TG), chia làm 61 phường” (Toàn thư. Sđd, tập II, tr. 12). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thành văn, thấy nhắc đến số lượng phường của Thăng Long. Các phường dọc bờ sông Nhị Hà, ngoài phường Yên Hoa, vẫn thấy sử nhắc tới phường Giang Khẩu. Gần đó là phường Cơ Xá, cũng như thời Lý, đây là cảng sông và phường của dân đất bãi.

Bên kia sông, là Gia Lâm, xứ Bắc nhưng đời sống khá gắn bó với kinh thành. Trước hết, vì ở đó có khu vực Hoài Viễn Dịch như thời Lý – nơi tiếp đón sứ giả nước ngoài và thủ lĩnh các dân tộc tiểu số trong nước (nay ở khoảng phường Cự Linh, quận Long Biên). Riêng đối với các sứ giả phương Bắc (Tống, Nguyên), nhà Trần cho dựng khu Quán Sứ (phố Quán Sứ ngày nay) để tiếp đón. Ngoài ra, ở Gia Lâm, còn có phủ đệ của vương hầu, có hành cung của vua. Năm 1312, nhà Trần đánh Chiêm Thành, bắt vua Chiêm là Chế Chí, đem về an trí ở đó, năm sau Chế Chí chết. Sau nữa, tại Gia Lâm, còn có khu lò gốm Bát Tràng. Làng gốm Bát Tràng không những sản xuất đồ gốm sứ phục vụ đời sống cung đình và sinh hoạt của dân chúng mà còn sản xuất gạch, ngói dùng trong việc tu bổ, bồi trúc kinh thành Thăng Long.

Sử sách đời Trần còn ghi chép đến các phường Tây Nhai (Tây Giai, hay Liễu Giai) và phường Kiều Các Đài ở phía Tây bên hữu kinh thành. Phường Nhai Tuấn, nơi mà năm 1247, 30 thuyền buôn của người Tống chống Nguyên tị nạn sang ta, đem vợ con, của cải sang xin quy phụ, và vua Trần cho ở phường đó. Họ mở phố chợ, bày bán vóc đoạn và thuốc Bắc, tự gọi là người Hồi Kê. “Hồi Kê”, có lẽ là “Hồi Cốt” chép nhầm, cũng tức là Hồi Hột (Ouùgour – Duy Ngô Nhĩ) chỉ người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương theo Hồi giáo, con cháu của người Hung Nô.

Thăng Long thời Trần là trung tâm đất nước. Thăng Long đời Trần đã mang dáng dấp của một thành phố quốc tế. Một thành phố nhân ái, bao dung, đón nhiều người đến cư trú chính trị, chống sự xâm đoạt của đế chế Nguyên – Mông.

Về việc tổ chức quản lý kinh thành, từ năm 1230, nhà Trần đã đặt ty Bình Bạc. Bình Bạc ty, đến năm 1265 đổi thành Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn, là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó.

Năm 1394, Kinh sư đại doãn lại đổi gọi là Trung đô doãn. Nhà Trần rất coi trọng chức vụ đứng đầu kinh thành này và có một chế độ tuyển chọn rất cẩn thận, thực tế. Muốn đứng đầu cơ quan cai trị kinh thành Thăng Long, người đó phải trải qua công tác thực tế cai trị ở các lộ, các phủ trong nước, đủ lệ khảo duyệt thì được cử về làm An phủ sứ phủ (lộ) Thiên Trường là quê hương nhà Trần và có cung của Thượng hoàng nhà Trần; lại đủ lệ khảo duyệt thì bổ làm Thẩm hình viện sự, rồi mới đưa về làm Kinh sư Đại an phủ sứ (hay Kinh sư đại doãn). Nhờ cách tuyển chọn cẩn thận đó, trong 175 năm dưới triều Trần, đã xuất hiện nhiều viên quan cai trị đứng đầu kinh thành Thăng Long vừa có đức vừa có tài như: Trần Thì Kiếm làm Đại an phủ sứ kinh sư năm 1297, tính cương trực, giỏi dịch lý, có tài xử kiện, mọi việc đều trước hết dựa vào pháp luật mà quyết đoán, không ăn của hối lộ. Một vị đứng đầu Thăng Long dưới đời Trần khác là Nguyễn Trung Ngạn (1341), một nhà thơ lớn đời Trần đỗ Hoàng giáp năm 1304, khi ấy mới 16 tuổi. Đến sau, Nguyễn Trung Ngạn hai lần được sung chức ở Hữu Sảnh (tức Viện Cơ mật), thời Trần Dụ Tông, giữ trọn tiếng tốt, thọ 80 tuổi, có tập Giới Hiên thi lưu hành ở đời…

Thăng Long là một thành phố có nhiều quân đội. Quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần phần lớn tuyển người xứ Nam (Long Cương, Thiên Trường), là quân cấm vệ, rồi quân trạo nhi làm phu võng, làm lính chở thuyền. Thăng Long có xây dựng nhà ngục. Và cùng có một loại lính “lao thành”, gồm những người tù tội chuyên làm việc cắt cỏ voi, phát cỏ rậm ở bên chân thành Đại La…

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*