Xây dựng kinh thành Đông Kinh

Năm 1430 triều đình ban luật lệ đổi Đông Đô thành Đông Kinh.

Kinh thành Thăng Long ở đầu thời Lê vẫn là kinh thành Thăng Long thời Lý, Trần, Hồ, chỉ có khác là những cung điện đền đài ở trong hoàng thành đã bị phá phách hầu hết, thì nhà Lê dần dần sửa chữa, xây dựng ngày càng nhiều thêm. Mãi tới khoảng cuối thế kỷ XV, đời Lê Thánh Tông, tường hoàng thành đã xây lâu ngày, cũ quá, nhiều chỗ vỡ lở, sứt mẻ nên năm 1474 phải sửa đắp lại. Sách Cương mục chép rõ: “Tháng 10 năm Giáp Ngọ (1474): Sửa đắp thành ở kinh đô, tường thành ở kinh đô, nhiều chỗ vỡ lở sứt mẻ, cho nên sửa đắp lại” (Cương mục, tập I. Nxb Giáo dục, H. 1998, tr. 1127). Và đầu năm 1477, vua Lê Thánh Tông cũng lại cho sửa đắp thành Đại La (tức vòng thành ngoài cùng của kinh thành Thăng Long) cho kiên cố hơn.

Từ năm 1490 cho đến đầu thế kỷ XVI, kinh thành Thăng Long có nhiều thay đổi. Trong thời gian này, tường hoàng thành cũng như tường Đại La thành luôn luôn được sửa chữa xây đắp mở rộng thêm ra.

Năm 1490, để đề phòng những cuộc phản loạn như Nghi Dân, năm 1459, đương đêm đem đồ đảng bắc thang, trèo qua hoàng thành vào giết vua Lê Nhân Tông ở trong cung, Lê Thánh Tông đã cho quân lính xây dựng lại hoàng thành dài rộng thêm ra 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 11 năm Canh Tuất (1490), đắp rộng thêm Phụng thành, dựa theo quy mô thời Lý, Trần. Vua cảnh giác về việc Nhân Tông bị hại, nên lấy lính đắp thành đó. Đồng thời phía ngoài trường đấu võ, mở rộng thêm đến 8 dặm, sau 8 tháng thì đắp xong. Bèn dựng điện Danh Bảo (Cương mục chép là “điện Thạch Thất”), lập lại vườn Thượng Lâm, trong vườn có hươu và các thú khác” (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 508).

Tháng 5 năm Giáp Tuất (1514), Lê Tương Dực mở rộng hoàng thành mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3,60 mét), bao bọc cả điện Tường Quang, quán Chân Vũ (tức đến Quan Thánh sau này) và chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Tường hoàng thành đắp từ phía đông nam đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, bên trên sông đắp hoàng thành, bên dưới mở cửa cống xây bằng gạch đá, dùng sắt chắn suốt bề ngang (Cương mục, tập II. Sđd, tr. 62).

Theo Bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490, thì hoàng thành thời này là bao gồm cả khu vực hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần và khu vực tỉnh thành Hà Nội trong thời nhà Nguyễn sau này, nghĩa là rộng khoảng gấp đôi hoàng thành thời Lý – Trần và rộng gấp ba tỉnh thành Hà Nội. Phía tây hoàng thành thời này là phía tây hoàng thành thời Lý – Trần, giáp sông Tô Lịch về phía đông ra tới gần bờ sông Hồng, vượt quá cửa phía đông tỉnh thành Hà Nội sau này.

Sự bố trí, xây dựng trong hoàng thành buổi đầu thời Lê đại khái như sau:

Chính giữa hoàng thành là điện Kính Thiên, xây dựng năm 1428, là nơi nhà vua hội họp với các đại thần để bàn những công việc quốc gia đại sự của nhà nước. Bên phải điện Kính Thiên là điện Chí Kính, phía sau về bên trái là điện Vạn Thọ – nơi vua nghỉ ngơi, cũng xây dựng vào năm 1428. Đằng trước điện Kính Thiên là điện Thị Triều, nơi các quan vào chầu vua. Phía ngoài điện Thị Triều là cửa Đoan Môn. Hai bên cửa Đoan Môn là hai cửa Đông Tràng An và Tây Tràng An ăn thông ra hai phía đông tây trong hoàng thành. Phía đông của hoàng thành là khu Đông Cung có các cung điện của hoàng thái tử; giữa hai khu có một hồ lớn. Trước khu Đông Cung là khu nhà Thái Miếu, nơi thờ tổ tiên của nhà vua. Khu phía tây hoàng thành có nhiều hồ, núi, đài các, đền miếu, vườn Thượng Lâm v.v… tức là nơi giải trí thưởng ngoạn của hoàng gia ở trong hoàng thành.

Ngoài một số cung điện chính trên đây, hoàng thành còn có cung điện khác và đời vua nào cũng có thêm những công trình xây dựng mới. Riêng năm 1512, vua Lê Tương Dực cho Vũ Như Tô (tục gọi là Đô Nhạn), người xã Minh Quyết, huyện Cẩm Giàng, trấn Hải Dương, đứng ra trông nom xây dựng hơn 100 nóc cung điện có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng đài, một tòa cung điện nguy nga tráng lệ đã không hoàn thành được do cuộc loạn trào từ năm 1516 đến năm 1527 là năm Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.

Ngoài hoàng thành, nhiều kiến trúc mới cũng được dựng lên. Phía nam cửa Đại Hưng, có dựng đình Quảng Văn là nơi niêm yết các phép lệnh, cáo thị của triều đình. Viện Đãi Lậu là nơi các quan chờ vào chầu vua, trước dựng ở ngoài cửa Tây, đến đời Lê Thánh Tông dời về ngoài cửa Đại Hưng, gồm 2 dãy nhà, mỗi dãy 3 gian 2 chái. Từ đời Lê, Phật giáo bị hạn chế, các chùa tháp không được xây dựng thêm mấy, chủ yếu là trùng tù một số chùa tháp cũ. Thay vào đó là hoàng loạt các phủ đệ quý tộc, dinh thự quan lại, công đường 6 bộ và các cơ quan trung ương, doanh trại quân đội… Năm 1428, nhà Lê định lệ phân chia đất kinh thành cho các công thần bách quan, mỗi người được cấp từ 1 đến 2 mẫu để làm vườn và nhà ở. Như vậy, do sự phát triển của bộ máy quan liêu, khu hành chính-quan liêu lan rộng nhiều ra ngoài hoàng thành.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*