Văn học chữ Nôm xuất hiên và những bộ sử đầu tiên của dân tộc ra đời

Văn học Lý – Trần chủ yếu là văn học chữ Hán. Các nhà văn, nhà thơ dùng chữ Hán để diễn đạt tình cảm tư tưởng của mình. Trong một thời gian dài, nền văn học này đã đóng một vai trò quan trọng. Tuy phải dùng hình thức văn tự phi dân tộc, các tác giả thời Lý – Trần đã có công lớn trong sự nghiệp nâng cao ý thức dân tộc và lòng yêu nước cũng như đã có công lớn trong việc làm phong phú cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc.

Đến đời Trần, chữ Nôm bắt đầu có địa vị văn học là một hiện tượng chứng minh rõ ràng tinh thần dân tộc đang nẩy nở. Chữ Nôm xuất hiện từ bao giờ, hiện nay chúng ta chưa biết được rõ ràng. Có lẽ là vào cuối thời Bắc thuộc. Nhưng chúng ta biết rằng chữ Nôm là công trình sáng tạo của nhân dân. Khi nhà nước tự chủ thành lập, để phổ biến các chính lệnh trong nhân dân thật rộng rãi, chữ Hán bấy giờ không làm được đầy đủ nhiệm vụ, mà phải đòi hỏi một thứ chữ ghi tiếng nói của dân tộc, dễ hiểu dễ nhớ. Trong việc giao dịch giữa nhân dân, chữ Nôm cũng trở nên cần thiết. Đến thời Trần, việc học chữ Hán đã tương đối phát triển, thế mà mỗi khi tuyên chiếu chỉ của nhà vua, nhân viên ty hành khiển còn phải giảng cả âm lẫn nghĩa. Do những nhu cầu đó, sang thời Lý – Trần, chữ Nôm phát triển.

Đặc biệt đến đầu đời Trần, người ta đã dùng chữ Nôm để sáng tác văn học. Sử cũ chép rằng Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố đã làm thơ, làm phú bằng chữ Nôm. “Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1282)… có cá sấu đến sông Lô (tức sông Hồng – TG). Vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ (tức chữ Nôm – TG). Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy” (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 47). Khi Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, nhiều người đã làm thơ Nôm, lấy đề tài vua Hán gả Chiêu Quân (Vương Tường) cho Hung Nô để phúng thích. Đến cuối đời Trần, việc sáng tác văn học bằng chữ Nôm càng phát triển. Hồ Quý Ly hay dùng chữ Nôm. Trần Ngạc cũng đã dùng thơ Nôm để châm biếm Tư đồ Trần Nguyên Đán, khi Nguyên Đán kết thân với Hồ Quý Ly. Sách An Nam chí lược của Lê Trắc chép rằng chữ Nôm còn dùng để sáng tác các bản nhạc. Văn học chữ Nôm ra đời là một sự kiện lớn, báo hiệu sự phát triển của một nền văn học dân tộc chân chính.

Sự xuất hiện các bộ sách lịch sử thời Lý – Trần cũng đánh dấu một bước phát triển của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Giai cấp thống trị có ý thức rõ ràng về những việc làm của họ. Việc ghi chép lại những việc làm của tầng lớp vua chúa quý tộc là một điều cần thiết đối với nhà nước phong kiến. Nó có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền cho việc bảo vệ trật tự xã hội phong kiến. Những bộ sử đó, đến nay vẫn còn giúp chúng ta được rất nhiều trong việc nghiên cứu, khôi phục lại bộ mặt chân thực của xã hội bấy giờ. Hơn nữa, trong khi nhà nước dân tộc đang đóng vai trò tích cực trong việc chống ngoại xâm, những bộ sử đó đã ít nhiều biểu hiện tinh thần dân tộc, ý thức độ lập tự chủ.

Quyển lịch sử đầu tiên, có lẽ là Sử ký của Đỗ Thiện đời Lý. Sách này hiện nay không còn, chúng ta chỉ còn biết được một vài đoạn dẫn trong Việt điện u linh tậpLĩnh Nam chích quái.

Đến thời Trần, việc chép sử được tổ chức chu đáo. Tại kinh đô Thăng Long, Quốc sử viện được thành lập. Trần Tấn soạn sách Việt chí. Trần Tấn nguyên làm chức Tả tàng, sau làm chức Hàn trưởng đời Trần Thái Tông. Nhưng bộ thông sử đầu tiên của dân tộc là do nhà sử học nổi tiếng Lê Văn Hưu biên soạn. Sử cũ chép: “Tháng giêng năm Nhâm Thân (1272), Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu Lê Văn Hữu vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên. Vua xuống chiếu khen ngợi” (Toàn thư, tập II. Sđd, tr. 38). Đại Việt sử ký là một bộ sử biên niên, đến nay không còn nguyên vẹn nữa. Bóng dáng của nó chỉ còn thấy trong 8 quyền đầu bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Một số lời bình luận của Lê Văn Hưu mà Ngô Sĩ Liên còn chép lại cho ta thấy tinh thần yêu nước của Lê Văn Hưu.

Cuối đời Trần, có bộ Đại Việt sử lược, tác giả khuyết danh, gồm 3 quyển: quyển 1 chép từ Triệu Đà đến Tiền Lê; quyển 2 và quyển 3 chép về nhà Lý. Sách viết vào khoảng sau năm 1377. Bộ sách này thất truyền ở nước ta và được in lại ở Trung Quốc vào đời Thanh Càn Long (1736-1795) với tên là Việt sử lược. Một số nhà nghiên cứu cho đây là một bản chép tóm tắt Đại Việt sử lược của Lê Văn Hưu. Vào cuối đời Trần, còn có Hồ Tông Thốc soạn Việt sử cương mụcNam Việt thế chí. Cả hai bộ sách đó đều không còn nữa. Ngô Sĩ Liên đã khen Việt sử cương mục “chép việc thận trọng mà có phép, bình việc thiết đáng mà không thừa”. Đời Trần còn có một số sách thực lục như: Trung hưng thực lục gồm 2 quyển, chép công tích của tướng sĩ trong cuộc chiến tranh chống Nguyên và bộ Thực lục của Nguyễn Trung Ngạn, chép việc Trần Minh Tông đánh Ai Lao.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*