Tổng luận Thăng Long thời Trần

Thăng Long đời Trần trải qua 175 năm lịch sử. Vậy diện mạo của Thăng Long dưới thời đại hào khí Đông A là gì? Có thể tóm tắt trong vài từ, đó là một Thăng Long văn trị rực rỡ và võ công oanh liệt.

Thăng Long đời Trần là nơi sinh ra và hội tụ nhiều nhà văn hóa lớn của đất nước, mà tài năng và những công trình nghiên cứu, sáng tạo của họ đã góp phần làm phong phú và rực rỡ thêm đời sống văn hóa của kinh thành. Như trên đã nói, đó là Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố làm thơ phú bằng chữ Nôm, đặt cơ sở cho sự ra đời của nền văn học tiếng Việt. Đó là những bậc anh hùng mà tràn đầy tính cách nghệ sĩ như: Trần Thái Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh… là những tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước đầy khí phách anh hùng đời Trần…

Trần Nhật Duật là một vị tướng – nghệ sĩ biết nhiều tiếng nước ngoài, say mê âm nhạc, nghệ thuật, là tác giả của nhiều khúc nhạc, điệu múa… Trần Cụ là nhà thể thao – nghệ sĩ, nổi tiếng về đá cầu, lại giỏi đánh đàn, bắn nỏ.

Trong số những nhà văn hóa kiệt xuất của Thăng Long đời Trần, nổi lên tấm gương sáng ngời của một trí thức nho học. Đó là Chu văn An (1292-1370) quê ở thôn Văn, làng Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt, Thanh Trì). Có một thời gian ông giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám của triều Trần. Nhưng rồi trước sự đồi bại của triều đình đời Trần Dụ Tông (1341-1369), ông dâng sớ xin chém bảy nịnh thần là những người có quyền thế, lại được vua yêu. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng của Chu Văn An. Vua Trần không chấp nhận, ông liền từ quan về sống cuộc đời ẩn dật, lấy hiệu là Tiều Ẩn (Người ở ẩn làm nghề hái củi), để tỏ rõ chí hướng của mình. Trước khi làm quan và sau khi từ quan, Chu Văn An vẫn làm nghề dạy học. Cả cuộc đời dạy học không biết mệt mỏi, ông đã đào tạo cho đất nước nhiều học trò giỏi, trong đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… Chu Văn An là một nhà giáo dục lớn, một người thầy mẫu mực, đạo cao đức trọng rất cương trực và rất tiết tháo. Sau khi Chu Văn An qua đời, triều đình đã đưa bài vị của ông phối thờ trong Văn Miếu kinh đô Thăng Long. Đó là một sự biểu dương tài đức của một nhà giáo tiêu biểu của đất nước, một cách tôn vinh bậc Thái sơn – Bắc đẩu của làng Nho đất Việt, rất đáng ghi nhận.

Thăng Long không phải chỉ là nơi hội tụ các nhân tài của đất nước, mà Thăng Long còn là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhà thơ. Trước cảnh đẹp vừa hùng tráng vừa cổ kính của Thăng Long, nhà thơ Phạm Sư Mạnh đã viết nên những vần thơ thật đẹp:

Ngọc Nhị hàn quang tẩm quảng dã

Tản Viên tễ sắc chiếu Thăng Long

Văn Lang thành cổ sơn trùng điệp

Ông Trọng từ tiền vân đạm nồng.

(Sông Nhị nước mát, thấm khắp đồng ruộng,

Núi Tản Viên vẻ đẹp, ánh về Thăng Long

Thành cổ nước Văn Lang, hình núi trùng điệp

Trước đền Lý Ông Trọng, bóng mây đâm nhạt).

Nhưng Thăng Long đời Trần không phải chỉ có xây dựng và sáng tạo thơ ca, nghệ thuật… mà còn phải đánh giặc và đã đánh giặc rất giỏi.

Triều Trần được thành lập đúng vào lúc các dân tộc châu Á và châu Âu đang đứng trước một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm: nạn xâm lược bành trướng dữ dội của đế chế Mông Cổ. Đó là một đế chế rộng lớn và tàn bạo bậc nhất trên thế giới đương thời.

Đến năm 1279, toàn bộ đất nước Trung Quốc rộng lớn cũng bị xâm lược, sát nhập vào đế chế Mông Cổ và cùng với Mông Cổ, Triều Tiên lập thành đế chế Đại Nguyên. Chủ nghĩa bành trướng Đại Nguyên là một bước phát triển mới của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, hội nhập thêm tính chất du mục, hiếu vũ, hiếu sát của các hãn Mông – Thát. Trong vòng 30 năm (1258-1288), đế chế Mông – Nguyên đã ba lần xâm lược Đại Việt, trong mưu đồ quyết chiếm lấy nước có vị trí chiến lược trọng yếu này của Đông Nam Á, để mở đường bành trướng xuống toàn khu vực. Lần thứ nhất vào đầu năm 1258, chúng huy động khoảng vài ba vạn quân, từ Vân Nam tràn xuống. Lần thứ hai vào đầu năm 1285 và lần thứ ba vào cuối năm 1287, mỗi lần chúng huy động khoảng 50 vạn quân, tiến công nước ta từ nhiều phía.

Trước thế mạnh ban đầu của quân giặc, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của triều Trần, Thái sư Trần Thủ Độ (lần kháng chiến thứ nhất) và Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn (lần kháng chiến thứ hai và thứ ba) đã tạm thời rút lui, tránh quyết chiến khi chưa có lợi. Trong cả ba lần kháng chiến, vào giai đoạn đầu, triều Trần và quân dân ta đều tạm thời rút khỏi kinh thành. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình, nhân dân Thăng Long sơ tán để đánh giặc. Trước khi rời khỏi kinh thành, triều đình di chuyển tất cả kho tàng, của cải và nhân dân 61 phố phường được lệnh làm kế “thanh dã” (vườn không nhà trống), không để cho một mảy may lương thực, của cải lọt vào tay giặc.

Quân giặc chiếm được kinh thành Thăng Long, nhưng chỉ còn là một tòa thành trống rỗng. Lần thứ nhất, chúng chỉ tìm thấy trong ngục thất những tên sứ giả của chúng bị trói chặt bằng thừng tre, chúng chiếm được Thăng Long vào đầu năm 1285, cũng chỉ thấy “cung thất nhẵn không” và chỉ tìm thấy những sắc chiếu của vua Nguyên đã bị xé bỏ cùng với giấy tờ của các tướng ngoài mặt trận tâu báo về triều đình. Như vậy, quân giặc chiếm được kinh thành Thăng Long chỉ là hình thức.

Qua ba lần thử lửa, Thăng Long đã xứng đáng là Thủ đô anh hùng của đất nước anh hùng. Trên mảnh đất Hà Nội ngày nay còn lưu lại nhiều sự tích của thời chống Mông – Nguyên đó. Đình làng Giảng Võ (quận Ba Đình) thờ “Bà Chúa Kho”, tương truyền là người phụ nữ giữ kho ở Thăng Long. Bà đã cất giấu, phân tán tất cả của cải, lương thực trong kho, quyết không để lọt vào tay giặc… Dù tham gia quân đội của triều đình và vương hầu, hay bám làng chiến đấu, hay hy sinh cửa nhà đi sơ tán…, người dân Thăng Long đã biểu lộ và chứng minh phẩm giá cao quý và lẽ sống thiêng liêng của dân tộc: Tất cả vì độc lập, chủ quyền bất khả xâm phạm của đất nước.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*