Tổ chức quản lý thời nhà Lê

Năm 1466, nhà Lê ra quy định vùng kinh sư đặt thành phủ Trung Đô, gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, đứng đầu là các chức Trung Đô phủ doãn, Trung Đô thiếu doãn trông coi các việc về dân sự. Dưới phủ doãn, thiếu doãn là hai viên Huyện úy ở hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương. Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì: “Đời Hồng Đức (1470-1497) định lại quan chế đổi là Phụng Thiên phủ doãn, thiếu doãn, phẩm trật ở vào hàng Chánh ngũ [phẩm]” (Quan chức chíLịch triều hiến chương loại chí, tập II. Nxb Sử học, H. 1961, tr. 26). Thực ra, theo sử cũ các sự kiện đổi phủ Trung Đô thành phủ Phụng Thiên xẩy ra vào tháng 3 năm Kỷ Sửu (1469) dưới thời Quang Thuận (1460-1469) (Cương mục, tập I. Sđd, tr. 1078). Khu dân cư của hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường, tại mỗi phường đều có đặt một số phường trưởng. Quy hoạch 36 phố phường của Thăng Long – Hà Nội bắt đầu từ đó.

Phường vừa là một đơn vị hành chính cơ sở, tương đương như xã ở nông thôn, vừa là tập hợp những người cùng nghề. Cư dân 36 phường của Đông Kinh bao gồm cả nông dân, thợ thủ công và thương nhân, trong đó có những phố – chợ buôn bán tấp nập và những phường thủ công nổi tiếng.

Sách Dư địa chí do Nguyễn Trãi viết năm 1435, còn ghi lại một số phường thủ công đương thời: “Phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài, mâm, võng, gấm, trừu và dù lọng. Phường Yên Thái làm giấy. Phường Thụy Chương và phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa. Phường Hà Tân nung đá vôi. Phường Hàng Đào nuộm điều. Phường Tả Nhất làm quạt. Phường Thịnh Quang có (sản xuất) long nhãn. Phường Đường Nhân bán áo diệp y…” (Dư địa chíNguyễn Trãi toàn tập. Nxb KHXH, H. 1976, tr. 217).

Về trị an, nhà Lê lấy hai viên quan võ cao cấp, sung chức Chánh phó Đề lĩnh, chuyên trách về việc canh phòng giám sát trong toàn kinh thành. Từ năm 1435 trở đi, đặt ra lệ cấp giấy “lộ dẫn”. Phàm quân và dân ở các lộ vào kinh đô vì có việc công, hay vì buôn bán, hay là nha thuộc ở kinh đô có việc đi ra các lộ đều phải do quan trên, mà mình thuộc quyền, cấp phát cho giấy tờ chứng nhận. Ban đêm, các cổng thành Đại La đều đóng, ai muốn ra vào phải có thẻ “hành quân phù” thì lính canh mới mở cổng cho đi.

Năm 1510, Lê Tương Dực bắt đầu đặt chức Đề lãnh ở 4 cửa thành. Sử cũ chép: “Đặt chức chưởng đề lãnh, đồng đề lãnh, và phó đề lãnh, đều dùng chức quan trọng hàng võ hàm tòng nhất, nhị phẩm để quản lãnh việc quân ở 4 cửa thành: phàm những việc tuần phòng nã bắt kẻ gian, tra hỏi kiện tụng và các việc ngăn cấm hỏa tai, việc cầu cống đường sá đều do viên đề lãnh chịu trách nhiệm” (Cương mục, tập II. Sđd, tr. 43).

Ngay từ đầu nhà Lê, trên mặt thành và ngoài cửa thành Thăng Long, triều đình cho đặt các điếm canh, ngày đêm canh phòng. Mỗi phường lại lập đội Canh tuần làm nhiệm vụ điều tra trong phạm vi từng phường. Việc bảo vệ Hoàng thành và Cung thành được nhà Lê tổ chức rất nghiêm ngặt. Phải có sắc chỉ của nhà vua mới được vào các cửa cấm của hai vòng thành này. Ai mang lén gươm vào Hoàng thành hay mang bất cứ một thứ đồ sắt nào, từ cái kim trở lên, vào khu cung cấm đều bị xử tử. Lệ tướng sĩ vào hộ vệ và các quan vào chầu vua cũng được quy định chặt chẽ. Mọi người phải chờ ngoài cửa Đoan Môn rồi theo trống mới được vào cung thành.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*