Một số con sông ở Hà Nội

Sông Hồng
Sông Hồng bắt đầu từ dãy Nguỵ Sơn ở độ cao 1776m thuộc huyện Nhị Đô tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam vào Việt Nam. Từ Hà Khẩu ( Lào Cai) và chảy ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt ( Nam Định). Dòng chính của sông Hồng dài khoảng 1160km, phần chảy qua Việt nam khoảng 556km. Sông Hồng vào Hà Nội từ xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm đến xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, dài khoảng 30km, có lưu lượng nước bình quân hàng năm rất lớn, tới 2640m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 triệu m3.
Lũ sông Hồng chủ yếu là do lũ các phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô gây nên. Hàng năm, mùa lũ là 5 tháng ( 6 – 10 dương lịch) Tháng có lưu lượng bình quân lớn nhất, đỉnh lũ là tháng 8, lượng nước bằng 15% tổng lượng cả năm và bằng cả 7 tháng mùa cạn ( từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau). Tháng có lưu lượng nhỏ nhất là tháng 3.
Lượng phù sa rất phong phú, trung bình 100 triệu tấn trên năm. Phù sa màu mỡ, độ chua ( pH) trung bình 7, lượng đạm 14g/m3, lượng mùn 2, 76 đến 3,18 g/m3. Lượng phù sa chủ yếu trong mùa lũ chiếm 90% tổng lượng cả năm.
Đê sông Hồng được đắp từ năm 1108, đoạn từ Nghi Tàm đến Thanh Trì, gọi là đê Cơ Sá. Ngày nay sông Hồng ở Việt Nam có 1267 km đê ở cả hai bên tả, hữu ngạn. Độ cao mặt đê tại Hà Nội là 14m. Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất. Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ. Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp cá giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng sông Hồng.

Sông Đuống
Sông Đuống là phân lưu của sông Hồng, dài 65km, nối liền 2 sông lớn của miền Bắc là sông Hồng và sông Thái Bình. Lượng nước do sông Đuống cung cấp cho sông Thái Bình tại Phả Lại bằng 70% tổng lượng dòng chảy. Trong mùa lũ, sông Đuống đã tiêu khoảng 73% nước lũ sông Hồng, hằng năm cũng vận chuyển một lượng nước là 27,3 triệu m3 với lưu lượng bình quân 851m3/s.
Lòng sông Đuống rộng trung bình mùa cạn 200 – 250 m, mùa lũ 600 – 800m. Độ sâu trung bình 6-7 m, mùa lũ 9-12m.
Sông Đuống tách từ sông Hồng ở thôn Thượng Cát, xã Ngọc Thuỵ ( Gia Lâm) chảy về phía Đông đến xã Yên Thường ngoặt về phía đông nam qua các huyện Gia Lâm và Tiên Sơn, Thuận Thàh, Gia Lương ( Bắc Ninh) đổ vào sông Thái Bình ở Đại Than, gần Phả Lại. Đoạn chảy qua Hà Nội dài 17,5km.
Sông Đuống còn có các tên cổ là sông Thiên Đức, sông Đông Ngàn, sông Bắc Gian. Đoạn chảy qua Thuận Thành còn gọi là sông Lạc Thổ, đoạn gần Phải Lại gọi là sông Đại Than.
Tất nhiên sông Đuống đã nhiều lần đổi dòng, lại được nhiều lần đào nắn nên trên đại phận huyện Gia Lâm có nhiều đoạn sông cụt cũng mang tên Thiên Đức.

Sông Tô Lịch
Sách Đại Nam nhất thôngs chí (thế kỷ XIX) ghi: “Sông Tô ở phía đông thành Hà Nội là phân lưu của sông Nhị, chay r theo phái bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, chuyển sang phía tây đến xã Nghĩa Đô ở phái đông huyện Từ Liêm và các tổng huyện thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm rồi đổ sang sông Nguyệt”.
Năm 1889, thực dân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ chỗ cửa sông Hồn ( Hà Khẩu ) qua Hàng Cá, Hàng Lược tới Thuỵ Khuê lập ra các phố Nguyễn Siêu, ngõ Gạch, Hàng Cá, Hàng Lược. Chỉ còn lại nhánh từ đầu phố Thuỵ Khuê lên chợ Bưởi, rẽ xuôgn snam qua Cầu Giấy, Láng, Ngã Tư Sở, Đại Kim, Thanh Liệt ( chỗ này có một đoạn sông đào nối thông với sông Nhuệ ở cầu Bươu ) rồi qua các xã thuộc huyện Thanh Trì, tới xã ái Quốc, huyện Thường Tính thì đổ và cửa sông Nhuệ.
Sông Tô Lịch là một sông cổ của Thăng Long. Ngày xưa, hai bên bờ buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền. Khách buôn từ bắc hoặc nam đều có thể theo sông Hồng qua cửa Hà Khẩu vào sông Tô, từ phía nam ra cũgn có thể qua sông Đáy, sông Nhuệ, vào kinh thành bằng sông Tô. Từ khi bị lấp, sông chỉ còn là dòng thoát nước thải của thành phố, ô nhiễm nặng. Gần đây có chủ trương nạo vét và xây kè để trả lại vẻ đẹp cho dòng sông.

Sông Nhuệ
Sông Nhuệ còn gọi là sông Từ Liêm, phát nguồn từ gần đầm Bát Lang, xã Hạ Nỗ ( Đan Phương ) rất nhỏ sau to dần trông hình dáng tựa như cái dùi nên gọi là sông Nhuệ. Dòng sôgn chảy theo hướng Tây bắc -Đông Nam qua các huyện Thường Tín, Phú Xuyên của tỉnh Hà Tây và huyện Duy Tiên của tỉnh Hà nam, đến thị xã Phủ Lý thì nhập vào sông Đáy. Đoạn chảy trên đất Hà Nội dài gần 40km. Các làng ven sông đều có truyền thống bơi thuyền giỏi, thường mở hội đua chải vào mùa xuân. Trung tâm của hội bơi thuyền là làng Đăm, nay là xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm. Tại đây còn mỗi khúc sông cũ gọi là sông Pheo, dài 1km, rộng vài chục mét thường làm nơi tổ chức hội bơi Đăm.

Sông Kim Ngưu
Sông Kim Ngưu voóng là một nhánh của sông Tô Lịch từ phường Yên Lãng chảy theo đường La Thành qua cống Nam Đồng, Phương Liệt ( quận Đống Đa) tới xã Thịnh Liệt thông với sông Sét, qua các xã yên Sở, Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Đông Mỹ ( huyện Thanh trì) rồi chảy vào huyện Thường Tín, Hà Tây nhập vào sông Nhuệ. Đó là dòng chính. Còn có nhiều nhánh khác chảy miên man trong quân Hai Bà Trưng và huyện Thanh Trì song tác dụng chủu yếu ngày nay là đường thoát nước thải của nội thành.

Sông Cà Lồ
Sông Cà Lồ trước kia là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phú. Sau đó cửa sông bị lấp nên ngọn nguồn của sông Cà Lồ này nay là xã Vạn Yên, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cách bờ sông Hồng tới vài ba km. Sông Cà Lồ cực kỳ vòng vèo, nhận nước của nhiều sông suối từ dãy Tam Đảo chảy xuống như sông Ba hanh, suối Cheo Meo, sông Cao Thông… từng là ranh giới tự nhiên của các huyện Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh… tới xã Thuỵ Lâm, sông chảy lên hướng bắc làm ranh giới giữa Sóc Sơn với tính Hà Bắc, đến thôn Lương Phú cuối xã Việt Long thì đổ vào sông Cầu ở Ngã ba Xà ( sông Cà Lồ vốn có tên là sông Bình Lỗ).
Lưu lượng bình quân của sông Cà Lồ là 30m3/s, nhiều chỗ lội qua được. Phù sa không đáng kể. Tác dụng chủ yếu là tiêu úng trong mùa mưa. Đầu nguồn, từ Vạn yên đến thị trấn Phúc Yên đã được đắp chặn lại ở gần thôn Đại Lợi, biến khúc sông này thành hồ chứa nước và nuôi cá.

Sông Cầu
Sông Cầu bắt nguồn từ miền núi Chợ Đồn ( Bắc Thái) chảy qua các thị xã Bắc Cạn, Thái Nguyên, bắc Ninh, thị trấn Đáp Cầu đến Phả Lại nhập với sông Thương, sông Lục nam, sông Đuống ở Lục Đầu Giang thành sông Thái Bình, đổ ra biển Đông ở cửa Thái Bình.
Sông dài 288km, đoạn vào địa phận hà Nội khoảng 23km, từ xã Bắc Sơn đến xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, làm ranh giới giữa huyện này với tỉnh Bắc Thái và sông Cà Lồ. Mùa mưa, lưu lượng cao nhất 3500 m3/s. ảnh hưởng thuỷ triều lên tới ngã ba sông Công. Lũ lên nhanh song cũng rút nhanh, ít phù sa. Tác dụng chủ yếu là cung cấp nước tưới cho phần đất phía đông huyện Sóc Sơn.
Đoạn sông Cầu, chỗ hợp lưu với sông Cà Lồ còn có tên là sông Nguyệt Đức, hoặc Ninh Giang. Đây cũng là sông Như Nguyệt, nơi Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến chống quân Tống.

Sông Công
Là phụ lưu của sông Cầu, khởi nguồn từ mạch bắc Tam đảo chảy xuống phía nam qua huyện Phổ Yên, đến với xã Bắc Sơn ( Sóc Sơn) làm ranh giới giữa Hà Nội với tỉnh Bắc Thái rồi nhập với sông Cầu ở thông Anh Lạc, xã Trung Giã. Đoạn sông này dài 9km.

Sông Thiếp
Sông Thiếp dài 21 km, từ phái nam huyện Mê Linh thông với đầm Vân Trì 9 xã Vân Nội , huyện Đông Anh) rồi bao quanh thành Cổ Loa, qua xã Dục Tú, chảy sang huyện yên phong và Tiên Sơn đổ vào sông Cầu.

* * *

Các sông ở Hà Nội có thuỷ chế theo hai mùa rõ rệt: mùa lũ thường kéo dài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, cao nhất vào tháng 8, trên sông Hồng mực nước trung bình của tháng 8 lên đến 8,6 m trong khi mực nước trung bình cả năm 4,91m, đặc biệt trong mùa lũ lịch sử năm 1971, mực nước cao nhất đo được ở Hà Nội là 14,3m (ngày 22-8-1971). Mùa cạn thường kéo dài hơn, tới 7 tháng, từ tháng 11 đến tháng 5 với mức thấp nhất cả về mực nước và lưu lượng vào tháng 3. Trên sông hồng, mực nước trung bình của tháng 3 là trên 2,56m. Điều đáng chú ýe là vào mùa lũ, mực nước sông Hồng và sông Đuống lên rất cao, hơn hẳn các vùng xung quanh, nên trên hai sông này có hệ thống đê rất vững chắc, dài trên 150km để ngăn lũ, đặc biệt là đạon đê hữu ngạn sông Hồng bảo vệ trực tiếp cho khu vực nội thành Hà Nội. Về mùa cạn, do mực nước xuống thấp nên phải xây dựng các trạm bơm lấy nước sông tưới cho đồng ruộng.

* * *

Hà Nội lại còn có nhiều hồ, đàm tự nhiên và hệ thống sông, kênh đào để tiêu và tưới nước. Do yêu cầu đô thị hoá, nhiều ao, hồ đã được hay bị san lập để lấy đất xây dựng. ậ các huyện ngoại thành có những hồ lớn như Đồng Quan ( Sóc Sơn), Vân Trì ( Đông Anh), Yên Sở ( Thanh Trì) đang có dự kiến xây dựng thành những khu du lịch sinh thía. Khu vực nội thành tập trung khá nhiều hồ như các hồ : Bảy Mẫu, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Thủ Lệ, Văn Chương, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Thành Công… đặc biệt có Hồ Tây năm ở quận Tây Hồ rộng khoảng 500 ha là một thắng cảnh đẹp của thủ đo và là nơi cung cấp thuỷ sản có giá trị( xem thêm phần Tham quan – Du lịch )

Hà Nội có nguồn nước ngầm phá khá phong phú hiện đang được khai thác để thoả mãn nhu cầu nước sinh hoạt phục vụ sản xuất, đặc biệt ở khu vực nội thành.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*