Đời sống đô thị thời nhà Lê

Trong những thế kỷ tiếp sau khi định đô, Thăng Long đã trưởng thành khá nhiều về quy mô, nhưng hầu như không thay đổi về cấu trúc cơ bản. Suốt thời Lý-Trần, qua thời Lê sơ, đô thị Thăng Long – Đông Kinh vẫn bao gồm 2 bộ phận chính: Khu vực chính trị-quan liêu, mà lõi cốt là các tòa thành và các cung điện bên trong, kèm theo Quốc tử giám – Văn Miếu ở phía Nam; Khu vực kinh tế-dân gian, tập trung bên bờ sông Nhị Hà, cửa sông Tô Lịch và Hồ Tây với các chợ, bến và phường thôn thủ công. Thăng Long – Đông Kinh vào thế kỷ XV, từng đã trở thành một đô thị sầm uất, thịnh vượng vào bậc nhất của cả nước, nhưng vẫn tồn tại một khu vực nông thôn trong lòng nó. Đó chính là các xóm làng nông nghiệp, với các vườn tược, đầm ao và ruộng lúa, cùng các trại mới được khai phá, như khu vực “Thập tam trại” (13 trại) ở phía Tây kinh thành. Trong đó khu vực “thành” đóng vai trò hạt nhân, quyết định khu vực “thị” là một bộ phận cộng sinh, tồn tại được là nhờ vào phần “thành”, chức năng của nó cho đến lúc ấy là để phục vụ cho đời sống hàng ngày và sinh hoạt triều nghi của tầng lớp vua quan thống trị trong khu vực “thành”.

Sự phát triển kinh tế của Thăng Long – Đông Kinh đời Lê biểu hiện ra, trước hết ở khâu sản xuất hàng hóa, với sự phồn thịnh của các làng thủ công chuyên nghiệp ở ngay ven kinh thành. Đó là làng gốm Bát Tràng, dệt lĩnh Trích Sài và Bái Ân, làm giấy ở Yên Thái, Hồ Khẩu và Nghĩa Đô… Sự gia tăng sản xuất dẫn đến sự gia tăng trao đổi hàng hóa, thể hiện trong việc mở rộng mạng lưới chợ – phố vùng đồng bằng sông Hồng, Thăng Long – Đông Kinh chính là một trung tâm hội tụ lớn. Các chợ – phố cấp huyện và cấp trấn như những dòng chảy đã đem theo một số lượng khổng lồ sản vật và hàng hóa đổ về kinh thành, để rồi tỏa thấm vào nhu cầu tiêu thụ của đông đảo quan liêu và binh dân cư trú tại đó, hoặc lan tràn đi các địa phương khác. Một thị trường thống nhất liên vùng đã dần dần hình thành, lấy Thăng Long làm trung tâm.

Một nguyên nhân chủ yếu khác dẫn đến sự hưng khởi của Thăng Long và làm cho đời sống đô thị của nó có phần trở nên khó kiểm soát, đó là về mặt dân số trong thế kỷ XV là những đợt di dân hàng loạt và cá thể từ các địa phương – chủ yếu là Tứ trấn xung quanh kinh đô (Bắc Ninh – Sơn Tây – Hải Dương – Sơn Nam) đổ về cư trú tại Thăng Long.

Chắc chắn là những cuộc di cư đã bắt đầu từ những thế kỷ trước. Tới cuối thế kỷ XV, số người ở các nơi khác tràn về Thăng Long đã quá đông, khiến cho quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên đã phải ra lệnh xua đuổi dân trú ngụ về nguyên quán. Trong thực tế, cư dân Đông Kinh, số người nguyên quán có là bao, mà phần lớn là các nơi tụ tập lại. Hành động quá khích đó, gây ra sự lo ngại, phản ứng của một số triều thần. Sử cũ cho biết: “Năm 1481, Phó đô ngự sử Quách Đình Bảo “tâu về việc tự tiện đuổi dân trú ngụ như sau: Thần trộm nghĩ rằng: Kinh sư là gốc của bốn phương, tiền của trao đổi mua bán tất phải cho lưu thông, đủ dùng không nên để thiếu thốn. Trước đây, dân cư phủ Phụng Thiên, trừ những người quê quán ở phủ đó, gián hoặc có người tuy không phải quê ở đó, nhưng có cửa hiệu, thuế ngạch và nộp thuế, chịu sai dịch với bản phường. Nay quan phủ Phụng Thiên lại không hỏi xem dân tạp cư ở đó có cửa hiệu, thuế ngạch hay không, đuổi hết về nguyên quán, e rằng như thế thì kinh sư sẽ buôn bán thưa thớt, không còn sầm uất phồn thịnh nữa, không những người làm nghề buôn bán sẽ thất nghiệp nhiều, mà chợ búa e sẽ trống rỗng, ngạch thuế sẽ có thể thiếu hụt, có phần không tiện. Vì thế tâu xin: ngoài những kẻ vô loài tạp cư thì nên đuổi đi, còn những người nguyên có hàng chợ, cửa hiệu, trước đây đã biên vào thuế ngạch thì hãy cho được cư trú để buôn bán sinh nhai, cho vào bản phường nộp thuế lệ như cũ” (Toàn thư, tập II, Sđd, tr. 485).

Lời tâu xin trên của Quách Đình Bảo được nhà vua chấp thuận. Cuối cùng, nhà Lê chỉ đuổi những người tạp cư, không có nghề, còn những người đã có cửa hàng ở phố xá, hàng chợ và vào ngạch thuế, thì vẫn được tiếp tục như cũ.

Kinh tế hàng hóa thương nghiệp ở Thăng Long phát triển, lượng tiền bạc đưa vào lưu thông trao đổi ngày càng lớn, nên đã hình thành tại đô thị này một nghề mới, độc đáo, đó là nghề đúc bạc nén, và đổi bạc. Những người này phần lớn cư trú tại phố Hàng Bạc. Dân đúc và đổi bạc này dần dần chiếm đa số trong những người cư trú ở Hàng Bạc, vốn quê gốc tại Trâu Khê (thuộc huyện Bình Giang, trấn Hải Dương). Tương truyền rằng năm 1461, thời Lê Thánh Tông, có ông Lưu Xuân Tín, người làng Trâu Khê, đã được phép của nhà vua cho lập nên một tràng đúc bạc và tiền ở Thăng Long. Sinh thời, ông làm đến Thượng thư bộ Lại, và được tôn lên làm ông tổ nghề đúc tiền bạc. Sau đó, người làng quê ông ở Trâu Khê thuộc 5 giáp đã di cư ngày càng nhiều ra phố Hàng Bạc, làm nghề đúc bạc, lập nên các Tràng đúc bạc (nay dấu tích ở nhà số 58) để làm nơi sản xuất và hai ngôi đình là Trương Đình (ở nhà số 50) và Kim Ngân đình (ở nhà số 42) để làm nơi giao nộp thành phẩm cho Nhà nước, thêm vào đó là một ngôi đền thờ vọng “Trâu Khê vọng sở hội miếu cổ từ” lập nên ở phố Hàng Giầy (Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá: Đường phố Hà Nội, H. 1979, tr. 136).

Nghề đúc bạc đĩnh và đổi bạc có quan hệ chặt chẽ đến các hoạt động kinh tế của Thăng Long – Đông Kinh. Những người thợ bạc Trâu Khê cư trú tại phố Hàng Bạc, nhận nguyên liệu của đại diện Nhà nước phong kiến, tức là các Ty quan, mang bạc đúc thành từng đĩnh, hay nén 10 lạng, gọi là “chuyên bạc”, có in dấu thị thực vào đó, làm những đơn vị tiền tệ trong những công việc giao dịch lớn. Khi cần thiết, họ có thể đổi bạc đĩnh ra tiền đồng và ngược lại. Trong công việc giao dịch đổi chác đó, người thợ bạc đứng làm trung gian, được hưởng lãi.

Vào đầu thế kỷ XV, Thăng Long đã phát triển thành một đô thị với đời sống kinh tế thủ công chuyên nghiệp, thương nghiệp khá thịnh vượng. Chính vì thế, tầng lớp thị dân cũng phát triển và lối sống thị dân đã hoàn thành rõ nét. Bên cạnh lối sống lành mạnh, nhạy bén, năng động của những con người luôn luôn tiếp xúc với thị trường, thì Thăng Long – Đông Kinh cũng là nơi sản sinh ra một lối sống tiêu cực như rượu chè, cờ bạc, và nạn hối lộ hoành hành.

Nhà nước Lê sơ trên bước đường phát triển của nó đã có những biện pháp- xử lý hết sức nghiêm khắc và mạnh bạo trước các tệ nạn nói trên. Sử cũ cho biết, năm 1449, triều đình đã thẳng tay trừng trị Lê Nhân Lập là con của Thiếu úy Lê Lan, cùng với người trong kinh là bọn Nguyễn Thọ Vực họp nhau đánh bạc, trộm cướp, đã sai người đến tận nhà chúng dụ đến rồi giết cả. Biếm Thái úy Lê Lan 2 tư vì không biết dạy con. Nạn biếu xén và ăn hố lộ cũng bị triều đình nhà Lê trừng phạt rất nghiêm. Năm 1446, triều đình ra lệnh cấm các đại thần, các quan văn võ, các mệnh phụ, nữ quan vợ cả vợ lẽ các sắc dịch cùng đàn bà con gái trong nội điện không được ra vào nhà quyền thế, biếu xén nhờ vả lẫn nhau. Những kẻ ăn hối lộ đều bị xử tử. Năm 1449, “Chuyển vận phó sứ huyện Văn Bàn là Lương Tông Ký ăn hối lộ, việc bị phát giác. Án xử xong sắp đem chém, thì Ký nhờ người xung quan xin tha chết. Thái úy Lê Khả nói: “Phép nước không thể tha được”, lại nói: “Ăn trộm của một nhà còn không thể tha thứ, huống hồ Ký lại ăn trộm cả một huyện!”. Lại giao xuống cho xét, vẫn xử tội chết” (Toàn thư, tập II, Sđd, tr. 376, 377).

Nhưng một sai lầm của các vua triều Lê là để xây dựng một nền văn hóa chính thống dành riêng cho vua quan, họ đã có thái độ khinh thường văn hóa dân gian. Các vua Lê ra lệnh cấm trình diễn chèo hát, múa rối trong cung đình, phân biệt đối xử với nghệ sĩ dân gian, coi là “xướng ca vô loài” và cấm con trai đi thi, con gái lấy chồng nhà quyền quý.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*