Đời sống đô thị thời Lý

Thăng Long là thành thị ngã ba sông: sông Tô Lịch gặp sông Nhị Hà, mà cốt lõi là quận Hoàn Kiếm, nơi diễn ra các hoạt động buôn bán sầm uất. Những phường phố chính của Thăng Long xưa hội tụ quanh khu tam giác đó.

Về mặt kinh tế, nét đặc trưng của Thăng Long là các hoạt động công thương nghiệp. Do nhu cầu của vua quan và quân lính, do vị trí buôn bán, làm ăn thuận lợi, nhiều thợ thủ công và thương nhân các nơi tụ tập về Thăng Long. Phường thủ công, phố xá, chợ búa dần dần mọc lên.

Ngoài bốn cửa thành là những chợ, lớn nhất là chợ Đông và chợ Tây. Đấy là nơi trao đổi trực tiếp giữa bộ phận Thành và bộ phận Thị, cũng là nơi tập trung hoạt động buôn bán của kinh thành. Khu vực đông-bắc, lấy cửa Đông, sông Tô và sông Nhị làm giới hạn là trung tâm thương nghiệp lớn nhất của Thăng Long. Cửa Đông xưa mở ra khoảng trước phố Hàng Buồm ngày nay, mà dấu vết còn lại là “Đông Môn đình”, ở số 8 Hàng Cân và “Đông Môn tự” ở số 38B Hàng Đường. Ở đây tập trung nhiều phố phường-chợ bến, trung tâm là phường Giang Khẩu, Chợ Đông, bến cảng của sông Tô, và ngược lên phía trên, bến cảng Triều Đông (dốc Hòe Nhai). Phố phường, chợ búa tấp nập tạo nên cảnh trên bến dưới thuyền của một khu phố buôn bán lớn.

Các nghề thủ công nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng tập trung nhất vẫn là khu Đông và khu Tây của thành Thăng Long. Đó là các nghề dệt, nhuộm, gốm, sứ, giấy, nghề làm đồ trang sức, mỹ nghệ, nghề đúc đồng, rèn sắt, nề, mộc… Khảo cổ học đã tìm thấy nhiều đồ sứ tráng men, nhiều đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú…, những cột đá chạm rồng mang phong cách nghệ thuật thời Lý, nhiều gạch, ngói, trong đó có ngói bản, ngói ống, ngói tráng men và những viên gạch in niên hiệu đời Lý như Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)… được sản xuất vào triều vua Lý Thánh Tông (1054-1072). Những di vật cho thấy trình độ kỹ thuật và nghệ thuật cao của nghề gốm, sứ đời Lý. Sử cũ còn chép: Năm 1010, vua Lý Thái Tông dạy cung nữ dệt gấm vóc và ra lệnh phát hết gấm vóc nhà Tống ở trong kho cho các quan để tỏ ý từ nay không dùng hàng mua của nước ngoài nữa. Điều ấy chứng tỏ tinh thần tự lực tự cường của triều Lý và sự phát triển cao của nghề dệt đương thời.

Về văn hóa, dưới thời Lý, sinh hoạt văn hóa Thăng Long thấm đẫm tinh thần hòa hợp tôn giáo, mà các nhà nghiên cứu thường gọi là “Tam giáo đồng nguyên” (Nho – Phật – Đạo). Thời Lý, Phật giáo rất hưng thịnh vì Nhà nước lấy Phật giáo làm quốc giáo. Ngoài hai phái Thiền đã có từ trước là phái Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) vào năm 580 và Vô Ngôn Thông vào năm 820, xuất hiện phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông sáng lập năm 1069. Các vua đời Lý so với các vua Đinh, Lê thì giỏi hơn rất nhiều về phương diện học thức. Sự sùng Phật của các vua Lý cũng có tính cách tâm linh và tri thức hơn. Họ đều có học Phật và thường vời các thiền sư đến để đàm luận về giáo lý. Do đó, bên cạnh các kiến trúc cung đình, Thăng Long còn nổi tiếng về những kiến trúc Phật giáo. Đó là một loạt các chùa tháp do nhà vua và quý tộc bỏ tiền xây dựng, tiêu biểu nhất là chùa Diên Hựu và tháp Báo Thiên.

Chùa Diên Hựu xây dựng năm 1049, dựa theo một giấc chiêm bao của vua Lý Thái Tông. Chùa dựng trên một cột đá giữa hồ nước rộng (hồ Linh Chiểu), tượng trưng cho một đóa hoa sen, nên thường gọi là Chùa Một Cột. Kiểu kiến trúc một cột như vậy đã thấy ở Hoa Lư trước đó. Chùa được tu sửa nhiều lần và mở rộng thêm vào năm 1105. Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (Chùa Đọi ở Hà Nam) đề năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121), còn ghi lại hình ảnh chùa Một Cột đời Lý: “Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên bông sen dựng tòa điện đỏ sẫm, trong điện đặt pho tượng vàng, quanh hồ có hành lang bao bọc, ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu vồng để đi lại, phía sân trước cầu, hai bên tả hữu, xây tháp lưu ly” (Thơ văn Lý-Trần, Nxb KHXH, H. 1977, tập I, tr. 405). Rõ ràng quy mô và cấu trúc của chùa Một Cột đời Lý to lớn hơn nhiều so với chùa Một Cột còn lại ngày nay(1), đã trải qua nhiều lần xây dựng và thu nhỏ lại. Năm 1080, đúc một quả chuông lớn cho chùa Một Cột. Nhưng đúc xong, chuông đánh không kêu, nên bỏ ở ruộng chùa. Ruộng ấy thấp, nhiều rùa, gọi là Quy Điền (Ruộng Rùa) và chuông cũng do đó, mang tên chuông Quy Điền.

Năm 1056, vua Lý Thánh Tông cho xây chùa Sùng Khánh Báo Thiên và phát 12.000 cân (hơn 7 tấn) đồng trong kho, để đúc chuông đặt ở chùa đó, vua thân làm bài minh khắc vào chuông. Năm sau, 1057, vua lại cho xây tháp Báo Thiên ở chùa này. Tháp vốn có tên là tháp Đại Thắng Tư thiên, được xây trên một gò đất cao bên cạnh hồ Lục Thủy (Hồ Hoàn Kiếm), gồm 12 tầng (sách Việt sử lược, chép 30 tầng. Sđd, tr. 95) cao vài chục trượng (khoảng 80 m). Tháp đã cao, đỉnh tháp lại đúc bằng đồng. Tháp Báo Thiên cao sừng sững, từ rất xa đã trông thấy, được người đương thời coi như một công trình tiêu biểu của Thăng Long.

Chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, cùng với vạc Phổ Minh (Nam Định) và tượng Phật Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) là bốn công trình nghệ thuật nổi tiếng nhất của thời Lý-Trần được ngợi ca là “An Nam tứ đại khí”.

Ngoài chùa tháp, Thăng Long còn có một số đền miếu như đền Hai Bà Trưng ở phường Bố Cái thờ hai vị nữ anh hùng chống giặc nhà Hán (nay là phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng), đền Bạch Mã ở phường Giang Khẩu (nay là phố Hàng Buồm), thờ thần Tô Lịch (vị thần thành hoàng của đất Thăng Long xưa), miếu Đồng Cổ ở phía tây thành Đại La (gần Bưởi), thờ thần núi Đồng Cổ hay thần Trống Đồng – một biểu tượng của văn minh Việt cổ thời dựng nước… Tại miếu Đồng Cổ, hàng năm vào ngày 4 tháng 4, các quan văn võ trong triều phải đến làm lễ thề và đọc lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Đền Bạch Mã ở phía đông, cùng với đền Linh Lang (đền Voi Phục ở trong công viên Thủ Lệ) ở phía tây, đền Trấn Võ (đền Quan Thánh) ở phía bắc và đền Cao Sơn (Kim Liên, dựng vào đời Lê) ở phía nam, trong quan niệm cổ truyền, được coi là “Thăng Long trấn” (Bốn ngôi đền trấn giữ bốn phương của Thăng Long). Nhà Lý còn dựng đàn Viên Khâu (khoảng khu vực Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo trước kia – phố Thái Phiên, quận Hai Bà Trưng) và đàn Xã Tắc (tại làng Xã Đàn, gần đình Nam Đồng, quận Đống Đa) cầu cho mùa màng phong đăng, mưa hòa gió thuận.

Một trung tâm văn hóa quan trọng của Thăng Long được bắt đầu xây dựng từ đời Lý là khu vực Văn Miếu – Quốc tử giám. Năm 1070, triều đình dựng Văn Miếu, tạc tượng Chu Công (Tiên thánh), Khổng Tử (Tiên sư), cùng Tứ phối (Phục thánh Nhan tử, Tông thánh Tăng tử, Thuật thánh Tử tư và Á thánh Mạnh tử) và vẽ hình 72 hiền nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ. Văn Miếu còn là nơi dành riêng cho Thái tử đến học tập: mỗi tháng hai lần, thái tử có mặt ở đây để nghe giảng sách. Năm 1076 lập Quốc tử giám ở liền sau Văn Miếu. Từ lớp học hoàng gia dần dần phát triển thành trường Quốc tử giám, trung tâm giáo dục, đào tạo trí thức đầu tiên của nước Đại Việt. Khu văn hóa ấy đặt ở phía nam Hoàng thành, giữa một địa điểm rộng rãi, có nhiều ao hồ và vườn cây yên tĩnh. Phía trước Văn Miếu có một hồ rộng, gọi là Văn Hồ, nơi tụ thủy – hội tụ nguồn văn mạnh cho ngôi miếu văn hóa của kinh thành. Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Nho học đầu tiên, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh được vào hầu vua học tập. Năm 1076, triều đình tuyển chọn những văn quan có học cho vào ở Quốc tử giám. Đấy là những việc làm và cơ sở đặt nền tảng cho sự ra đời và phát triển của nền giáo dục đại học truyền thống. Năm 1253, lại dựng tại khu này, nhà Quốc học viện để tuyển lựa những học sinh ưu tú trong nước về đây học tập.

Thăng Long đời Lý vẫn thấm đượm tinh thần thượng võ. Nhà Lý lập điện Giảng Võ trong Hoàng thành làm nơi họp bàn của các võ quan. Năm 1170, Xạ Đình (Sân bắn) được thiết lập ở phía nam thành Đại La. Ở đó, nhà vua đến tập bắn cung, cưỡi ngựa và các võ quan thường luyện tập phép tiến công, phá trận.

Như vậy là chỉ trong vòng một vài thế kỷ sau khi định đô, Thăng Long đã được xây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.

Trong buổi đầu của kỷ nguyên văn minh Đại Việt, Thăng Long đã xứng danh với vị trí kinh đô của đất nước vừa quy tụ tinh hoa của dân tộc, vừa tỏa chiếu ảnh hưởng ra cả nước. Nền văn hóa Đại Việt thời đó, vì thế được mang tên Văn hóa Thăng Long. Nhân dân Thăng Long đã góp phần cùng với nhân dân cả nước tạo nền văn minh Đại Việt và lập chiến công bình Chiêm, phá Tống, mà hai nhân vật tiêu biểu nhất là Lý Thường Kiệt và Ỷ Lan.

Lý Thường Kiệt (1019-1105), vốn tên là Ngô Tuấn, người phường Thái Hòa (phía trên Bách Thảo ngày nay). Thường Kiệt là tên tự của ông và sau này ông được triều Lý ban “quốc tính”, nên sử quen gọi là Lý Thường Kiệt. Ông được vua Lý Thánh Tông nhận làm con nuôi (Thiên tử nghĩa nam). Lý Thường Kiệt từng giữ những cương vị quan trọng trong triều đình như: Nguyên soái, Phụ quốc Thái úy. Lý Thường Kiệt là người có tài kinh bang tế thế, là một nhà chính trị giỏi, một nhà quân sự kiệt xuất, một anh hùng lớn của dân tộc. Lý Thường Kiệt là một người con ưu tú của Thăng Long mà công lao, sự nghiệp đã làm rạng rỡ đất Rồng bay và mãi mãi tỏa sáng trong lịch sử.

Ỷ Lan ( ? – 1117), tên thật là Lê Thị Yến Loan (theo Mông Khê bút đàm của Thẩm Hoạt), là một cô gái hái dâu chăn tằm làng Sủi (Thổ Lỗi, sau đổi là Siêu Loại). Một lần, vua Lý Thánh Tông về thăm chùa Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), gặp cô gái xinh đẹp đó, đang đứng tựa gốc lan trong nương dâu. Nhà vua truyền đưa cô về kinh, tuyển làm cung phi và đặt tên là Ỷ Lan (Tựa gốc lan), để ghi kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ đầu tiên. Ỷ Lan là người phụ nữ có tài năng và tâm hồn lớn, yêu nước thương dân, có nhiều cống hiến trong việc giữ gìn đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Thăng Long, và cả nước đương thời.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*