Đời sống đô thị thời Lê Trung hưng

Dưới thời Lê Trung hưng, các chúa Trịnh tiến hành những đợt xây cất, mở rộng kinh thành Thăng Long, trong suốt thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Ngay trong khi tiến quân trở về kinh thành, Trịnh Tùng cho sửa hoàng thành, sai thợ làm cung điện, làm hành tại ở phía Tây Nam thành Thăng Long.

Cùng với những hệ quả của việc mở rộng đô thành, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa của Đàng Ngoài về các mặt sản xuất, trao đổi và lưu thông, là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hưng khởi của Thăng Long trong những thế kỷ XVII, XVIII.

Trước hết, sự phát triển kinh tế biểu hiện ra ở khâu sản xuất hàng hóa, với sự phồn thịnh của các làng thủ công chuyên nghiệp. Nhiều làng ở xung quanh kinh thành Thăng Long là những làng chuyên thủ công. Chúng ta có thể kể đến cụm các làng La Khê, La Cả, La Nội (Sơn Nam) dệt the lụa, Vạn Phúc (Sơn Nam) dệt gấm, Phùng Xá (Sơn Tây) dệt lượt, các làng Hương Canh, Thổ Hà, Phù Lãng (Kinh Bắc) và Đinh Xá (Sơn Nam) làm đồ gốm, các làng Đại Bái, Đề Cầu, Đông Mai (Kinh Bắc) đúc và làm đồ đồng, Đào Xá (Hải Dương) làm quạt, thợ vàng bạc ở Đồng Sâm, Đình Công (Sơn Nam), thợ tiện ở Nhị Khê (Sơn Nam), thợ sơn ở Hà Vĩ, Bình Vọng (Sơn Nam), thợ da ở làng Trúc Lâm, Phong Lâm, Văn Lâm (Hải Dương), thợ thêu ở Quất Động (Sơn Nam)… (Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII – XIX. Hội Sử học Việt Nam xuất bản, H. 1993, tr. 11, 12). Ở ngay ven kinh thành Thăng Long, các trung tâm thủ công nghiệp cũng tăng cường hoạt động, như các làng gốm Bát Tràng, dệt lĩnh ở Trích Sài và Bái Ân, làm giấy ở Yên Thái, Hồ Khẩu và Nghĩa Đô.

Sự gia tăng sản xuất dẫn đến sự gia tăng trao đổi hàng hóa, thể hiện trong việc mở rộng mạng lưới chợ – phố. Trong thời kỳ này, thương nghiệp là ngành kinh tế phát triển nhất ở Thăng Long. Nhờ có sông ngòi thuận tiện, việc liên hệ kinh tế giữa kinh thành Thăng Long với các địa phương ngày càng chặt chẽ. Những thuyền buôn từ Thanh Hóa – Nghệ An và các trấn ở miền Nam ra kinh thành, cũng như các thuyền buôn từ mạn ngược về kinh thành, luôn luôn có hàng ngày. Việc buôn bán trên sông Hồng lúc ấy thật là nhộn nhịp. Giáo sĩ Marini đã ở kinh thành Thăng Long khoảng đầu thế kỷ XVII, có viết lại rằng: “Sông bọc lấy thành thị (Thăng Long), trong một khuỷu rộng, nên việc buôn bán được dễ dàng, thuyền bè luôn luôn đi lại trên sông: sông còn chia ra nhiều ngành, nhiều sông đào, rất có ích cho việc chuyên chở các hàng hóa và làm cho việc buôn bán giữa các tỉnh ngoài với kinh thành được thuận tiện” (Dẫn theo Trần Huy Liệu (Chủ biên): Lịch sử Thủ đô Hà Nội. Nxb Sử học, H. 1960, tr. 72).

Nhà buôn Baron có cửa hiệu ở Thăng Long khoảng cuối thế kỷ XVII, cũng nói về sông Hồng ở Thăng Long như sau: “Đối với kinh thành, sông này cực kỳ thuận lợi: tất cả các thứ hàng hóa đều đem tới đây, đây là nơi thâu tóm mọi hoạt động trong nước với một số lượng thuyền bè vô tận đi đi lại lại khắp nước để buôn bán” (Trần Huy Liệu (Chủ biên): Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Sđd, tr. 72).

Giáo sĩ Richard ở thế kỷ XVIII, cũng rất ca ngợi cảnh buôn bán sầm uất trên bến sông Hồng ở kinh thành Thăng Long: “Số lượng thuyền bè lớn lắm, đến nỗi rất khó mà lội được xuống bờ sông: những sông, những bến buôn bán sầm uất nhất của chúng ta (Âu châu), ngay thành phố Vơnidơ (Venise) nữa với tất cả những thuyền lớn thuyền nhỏ của nó cũng không thể đem đến cho người ta được một ý niệm về sự hoạt động buôn bán về dân số trên sông Kẻ Chợ” (Trần Huy Liệu (Chủ biên): Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Sđd, tr. 72).

Sông Tô Lịch lúc ấy cũng là nơi thuyền bè buôn bán ra vào tấp nập. Phường Hà Khẩu (phố Hàng Buồm hiện nay) ở ngay trên sông Tô, đổ ra sông Hồng trở nên rất sầm uất, nhiều hiệu buôn của người ngoại quốc đều tập trung ở đây. Hồ Tây khi ấy vừa ăn thông với sông Hồng vừa ăn thông với sông Tô, nên những phường ở trên bờ hồ như phường Nhật Chiêu, phường Tây Hồ đều thuyền bè sầm uất.

Sự buôn bán ở Thăng Long càng thịnh vượng, thì dân số càng tăng, phố phường đông đúc. Từ đầu thế kỷ XVII, ở kinh thành Thăng Long bắt đầu có người phương Tây tới buôn bán: đông nhất là người Hà Lan, người Bồ Đào Nha, người Anh, rồi dần dần người Tây Ban Nha, người Pháp. Từ đầu thế kỷ XVII, những công ty thương mại của người Hà Lan và người Anh đã lập cửa hiệu ở Thăng Long, tại phía bờ sông Hồng (gần cầu Long Biên ngày nay). Các nhà buôn Trung Quốc, Nhật Bản cũng có nhiều người buôn to ở Thăng Long.

Trong thế kỷ XVII – XVIII, Thăng Long đã là đầu mối của ít nhất 2 tuyến buôn bán đường dài: Thăng Long – Thượng Du và Thăng Long – Thanh Nghệ. Gạo, muối từ đồng bằng qua Thăng Long, đã ngược lên mạn Thượng Du và từ đó lại xuôi về các đặc sản như kim loại (chủ yếu là đồng đỏ), trâu bò, lâm sản, gỗ và tre nứa. Từ Thanh Nghệ, các thuyền đinh lớn đi ven biển và ngược sông Hồng, sông Đáy đã đưa ra Thăng Long nhiều đặc sản, trong đó có muối, nước mắm, cá khô, quế, cau khô… để rồi lại tỏa đi các trấn vùng đồng bằng.

Đối với ngoại thương đường dài xuyên quốc gia, mặc dù có khá nhiều hạn chế do chính sách cấm đoán của nhà nước phong kiến và tính chất buôn bán một chiều bất bình đẳng (chỉ cung ứng nguyên liệu, gia công sản phẩm, chứ không trực tiếp xuất cảng hàng hóa chế phẩm). Thăng Long vào thế kỷ XVII – XVIII, vẫn là đầu mối chính của các tuyến giao lưu: Thăng Long – Vân Nam (thuyền đi đến Mạn Hảo), trong việc buôn bán với miền Nam Trung Quốc; Thăng Long – Phố Hiến, từ đó các tầu thuyền ngoại quốc có thể nhổ neo đi Quảng Châu, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây. Sự xuất hiện và tồn tại trong một thời gian dài vài chục năm, các thương điếm của công ty Đông Ấn của Hà Lan (1645-1699) và của Anh (1683-1697) ở Thăng Long, như một đại lý thu mua nguyên liệu và hàng hóa đã đóng vai trò kích thích, nếu chưa phải là chủ yếu đối với nền ngoại thương vượt biển, thì lại đã có một tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy các luồng hàng hóa từ các địa phương thuộc Tứ trấn (Kinh Bắc – Sơn Tây – Hải Dương – Sơn Nam) chuyển về kinh thành (Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVI – XVII – XVIII. Sđd, tr. 14-15).

Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Đàng Ngoài, mà chủ yếu là ở các trấn xung quanh Thăng Long, về các mặt sản xuất, trao đổi và lưu thông, đã là một sự hưởng ứng rất kịp thời đối với những nhu cầu mỗi ngày một tăng của Thăng Long, tạo nên nền móng cơ bản và tiền đề kinh tế để duy trì và thúc đẩy sự phồn vinh của Thăng Long tới một bước cao hơn.

Đời sống văn hóa-giáo dục của Thăng Long trong thời kỳ này phát triển hơn trước. Các trường học được mở nhiều hơn. Trường Quốc tử giám được xây dựng rộng lớn hơn trước và thường xuyên nhận vào lưu trú những học sinh đã thi Hương trúng tuyển bốn kỳ, gọi là Giám sinh.

Trong thời kỳ này, ở Thăng Long cũng có nhiều trường tư do các danh nho, danh sĩ đương thời lập nên. Một trường tư ở Thăng Long được sử sách nói đến nhiều nhất là trường Hào Nam của danh sĩ Vũ Thạnh. Ông là người làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay thuộc Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Nhà nghèo, ông bỏ quê, ra ở chùa Báo Thiên, huyện Thọ Xương, theo học với Tiến sĩ Vũ Công Đạo ở kinh đô Thăng Long. Vũ Thạnh là người có chí, có tài, nổi tiếng về văn chương, hay chữ. Thi Hương đỗ Giải nguyên, 22 tuổi đỗ Thám hoa khoa Ất Sửu (1685) đời Lê Hy Tông. Năm 1698, ông bị chúa Trịnh Căn khép vào tội nói xấu phủ Chúa, nên bị bãi chức. Về ngôi trường Hào Nam của ông, sử cũ chép: “Sau khi Vũ Thạnh đã về, dựng nhà ở phường Hào Nam dạy học, suy tìm nghĩa lý trong kinh sách, học trò có người ở xa hàng ngàn dặm cũng cắp tráp sách đến học tập. Đằng trước nhà học liền ngay với hồ Bẩy Mẫu, mỗi khi đến ngày giảng tập, nhà học không đủ chỗ chứa hết, học trò thường xuyên mượn thuyền nan cặp vào bên hồ nghe lời giảng dạy. Vũ Thạnh, tính tình khoan hòa, khéo dạy dỗ những người hậu tiến, văn chương phong nhã đầy đủ, làm khuôn thước một thời. Học trò của ông nhiều người đỗ cao, làm bầy tôi danh vọng…” (Cương mục, tập II, Sđd, tr. 383).

Việc thi cử vẫn được duy trì như các thời trước. Những kỳ thi cao cấp như thi Tiến sĩ, thi Minh kinh, thi Hoành từ, thi Đông các, v.v… đều tổ chức tại kinh thành Thăng Long. Chế độ thi ở thời Lê Trung hưng, cũng như thời Lê sơ, rộng rãi hơn thời Lý – Trần: quân lính cũng được đọc sách, được học, được thi. Vào khoảng cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, con nhà hát xướng cũng được đi thi, được làm quan.

Trong suốt thời Lê sơ và kể cả Lê Trung hưng sau này, khoa thi mở nhiều, học trò thi đỗ được hậu đãi, quan lại tuyển dụng nhiều, nên người ta xô nhau đi thi, xô nhau tìm cách ra làm quan. Tình trạng thi cử ngày càng đồi bại, nhất là từ thế kỷ XVII trở đi: học sinh đua nhau mang theo bài làm sẵn vào trường thi hoặc nhờ người khác làm hộ. Đa số thí sinh dùng tiền tài, dùng thần thế để được đỗ, do đấy khoa thi nào, số người trúng tuyển không xứng đáng cũng tới quả nửa.

Năm 1664, Trịnh Tạc bắt tất cả các thí sinh đã đỗ từ ba khoa trước [Đinh Dậu (1657), Canh Tý (1660), Quý Mão (1663)], phải thi lại tại bãi sông Hồng trước kinh thành “lúc ấy, những người bị đánh hỏng đến quả nửa”. Nhiều năm sau cũng mở những khoa thi lại như vậy.

Năm 1750, do chúa Trịnh phải “dùng quân đánh dẹp, chi phí mất nhiều, tài dụng trong nước không đủ. Năm nào gặp khoa thi Hương, thì hạ lệnh cho mỗi người nộp 3 quan tiền, sẽ miễn khảo hạch và đều cho đi thi, gọi là “tiền thông kinh”… Do đấy, người làm ruộng, người buôn bán, người đồ tể đều hớn hở nộp quyển đi thi. Ngày vào trường thi, học trò giày xéo lẫn lên nhau, đến nỗi có người chết. Trong trường thi kẻ mang sách, kẻ mướn người làm gà, hành động thả cửa, quan trường cùng người gian trá như họp chợ. Phép thi như thế, thối nát quá chừng” (Cương mục, tập II, Sđd, tr. 605). Cũng từ khi có lệ nộp tiền “thông kinh”, tình trạng thi cử ngày càng nát thêm “học sinh đua nhau chạy chọt, quan trường coi thường kỷ luật, người thi đỗ phần nhiều không phải thực học”, khiến cho “sinh đồ ba quan đầy cả thiên hạ”. Kỳ thi Cống sĩ năm 1751, dư luận rất xôn xao về tình trạng ấy, cho nên chúa Trịnh bắt các cống sĩ mới đỗ phải thi lại ở lầu Ngũ Long (gần hồ Hoàn Kiếm). Hơn 200 cống sĩ bị đánh hỏng trong kỳ thi lại này.

Sự thi cử như vậy thì sự học tất yếu cũng giảm sút. Người học thời kỳ này phần lớn lao vào lối học từ chương sáo ngữ, cố đem công dùi mài đèn sách, học tập những tiểu xảo, gọt giũa văn chương từng câu, từng chữ, chỉ còn biết đến hình thức văn chương, chứ không tìm hiểu sâu về tư tưởng. Thậm chí, về sau chỉ cần học mấy bộ Tứ thư, Ngũ kinh, Tinh lý toát yếu do Bùi Huy Bích soạn lại gọi là sách Quan Hành (Bùi Huy Bích từng giữ chức Hành Tham tụng) cho dễ nhớ là đủ để thi rồi. Chính Lê Quý Đôn cũng nhận rằng: “… Các bậc tiền bối soạn sẵn từng bài, lời lẽ rắn rỏi trang nhã, bọn hậu sinh cùng nhau rập theo bản cũ, quan trường chấm thi chỉ thải bỏ bài nào thối nát mà thôi” (Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Sđd, tr. 93).

Do sự bó buộc và khuôn theo sáo cũ như thế, nên sự học được truyền bá rộng ra, số người biết chữ thông hiểu nghĩa sách ngày một nhiều lên, và các khoa thi về sau này, số người đỗ Hương cống và Sinh đồ đông hơn, nhưng rất ít người hiểu biết uyên bác, và ngay đến cả số người đỗ cao ở các kỳ thi Đình tại kinh đô Thăng Long cũng ngày càng ít đi. Đem so sánh số khoa thi đời Lê là 26 khoa với số trúng tuyển tiến sĩ là 989 người, trong đó có 18 trạng nguyên, và đời Mạc có 22 khoa thi với số trúng tuyển tiến sĩ 385 người trong đó có 13 trạng nguyên, với đời Lê Trung hưng có 64 khoa chính, với 717 tiến sĩ, trong đó chỉ có 6 trạng nguyên và 1 vị Bảng nhãn tam nguyên là Lê Quý Đôn, thì rõ ràng ngay cái chất tri thức cử nghiệp cũng sút kém rồi.

Do đó, chúng ta thấy phái nhà Nho từ Lê Trung hưng trở đi, nhất là ở thời Lê Mạt, không còn có được cốt cách thanh cao, hành vi nghĩa khí nữa, mà đa số chỉ còn là một bọn biết chữ vụ lợi, xu thời mà thôi.

Dưới thời Lê Trung hưng, môn phái Trúc Lâm lại được phục hưng ở kinh thành Thăng Long và ở cả Đàng Ngoài. Vào khoảng giữa thế kỷ XVII, một số khá đông các tăng từ Trung hoa đã qua Đại Việt hành đạo. Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Phật giáo ở nước ta phục hưng. Hồi đó, Đại Việt đang ở vào tình trạng chiến tranh liên miên, Trịnh – Nguyễn đã bắt đầu đánh nhau ở Quảng Bình và Hà Tĩnh (1627-1672).

Sau gần một thế kỷ rưỡi loạn lạc, đầy dẫy bạo động, đức tin của các nhà chính trị đối với Tống Nho đã bị lung lay. Nhiều sĩ phu mặc dù theo đuổi cái học Tống Nho để tiến thân nhưng trong thâm tâm họ không thật sự tin tưởng vào những điển chế của đạo này. Trong nỗi đau khổ, trong sự giằng xé của nội tâm, người ta bắt đầu quay trở về với đạo Phật, một đạo đầy lòng từ bi, bác ái. Các chúa Trịnh không phải là những người học Phật uyên thâm và có ý chí tu học như các vua Trần, nhưng đã quy hướng về đạo Phật, lấy đó làm nơi nương tựa tinh thần.

Vào thời kỳ này, nhiều thiền sư nổi tiếng của Trung Quốc và Việt Nam đến trụ trì và hoằng pháp tại Thăng Long, và vì thế, nhiều ngôi chùa nổi tiếng được trùng tu hoặc dựng lên ở đây.

Thiền sư Chuyết Chuyết, người Trung Quốc đến kinh thành Thăng Long năm 1633. Thày trò ông có mang theo một số kinh điển sang Việt nam. Đến Thăng Long, ông và đệ tử ở lại chùa trên núi Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp.

Thiền sư Như Trừng (1696-1733), tự là Lân Giác, hiệu là Cứu Sinh thượng sĩ, ông vốn là một vị vương công họ Trịnh. Ông tên là Trịnh Thập, sinh năm 1696, con của Phổ Quang vương. Lớn lên ông được vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho. Ông có tư dinh tại phường Hồng Mai, huyện Thọ Xương (nay là phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội). Sau tư dinh có một đồi đất cao. Vào năm 1732, một hôm ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá vàng, người nhà đào được một cọng sen lớn đem vào trình ông. Ông cho đó là điềm xuất gia, liền đổi nhà làm chùa, đặt tên là Viện Ly Trần (Viện xa dời bụi trần), chùa Liên Tông (đến đời Thiệu Trị (1841-1848) vì kỵ húy, đổi thành Liên Phái), bắt đầu ăn chay, học đạo, ngồi thiền. Sau đó, ông dâng sớ xin xuất gia. Như Trừng là đệ tử xuất sắc vào loại nhất của Thiền sư Chân Nguyên nổi tiếng. Chùa Liên Tông (Liên Phái – nay ở trong ngõ số nhà 182 phố Bạch Mai – Hà Nội) là trung tâm của hệ phái do Thiền sư Như Trừng thành lập. Các chùa Hộ Quốc, Hàm Long, Sùng Đức, Nghiêm Xá, Thiền Quang, Phúc Ân, Vân Trai, v.v… đều là tổ đình thuộc phái này.

Chúa Trịnh cũng cho phép tu tạo, sửa chữa nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác ở Thăng Long như: Năm 1624, tu tạo thượng điện, tam bảo, tiền đường, nghi môn và hương lô ở chùa An Quốc. Năm 1628, lại trùng tu nâng cấp một lần nữa và đổi tên là chùa Trấn Quốc. Năm 1639, chúa Trịnh sửa lại: làm tam quan, xây hành lang hai bên tả hữu, quy mô rộng rãi đẹp đẽ… Vào thời kỳ này, các vua Lê, chúa Trịnh, nhất là Trịnh Giang và Trịnh Sâm hầu như giữ độc quyền về chùa Trấn Quốc để chơi mát và thưởng sen… Năm 1687, sửa chữa lại chùa Hồng Phúc (tức chùa Hòe Nhai). Chùa Hòe Nhai là trường sở của các tăng ni thuộc phái Tào Động trong đạo Phật. Năm 1771, chúa Trịnh cho xây dựng lại ngôi chùa ở phường Nghi Tàm bên Hồ Tây và cho đổi tên là chùa Kim Liên…

Trong khoảng thế kỷ XVII – XVIII, Đạo giáo cũng được phát triển ở Thăng Long và được vua chúa tôn trọng. Năm 1680, Trịnh Tạc cho trùng tu quán Trấn Võ (vốn được xây năm 1102 đời Lý) và cuối năm 1681 cho đúc pho tượng thánh Trấn Võ bằng đồng. Nguyên lúc mới dựng đền, tượng Trấn Võ làm bằng gỗ, đến đây mới đúc tượng đồng thay vào. Tượng bằng đồng đen, cao 3,72 mét, nặng 4 tấn, đường chu vi phần dưới tượng đo được 8 mét(1). Tượng Trấn Võ không đội mũ, để xõa tóc ra đằng sau, mặc áo đạo sĩ màu đen, chân đi đất, tay trái giơ lên bắt quyết trừ tà ma, tay phải chống kiếm xuống lưng một con rùa, trên lưỡi kiếm có con rắn leo xung quanh. Sở dĩ tượng Trấn Võ có hình rùa và rắn là vì rùa và rắn là tượng trưng cho thần trấn giữ phương Bắc. Năm 1746, chúa Trịnh lại cho đúc tượng Trấn Võ ở quán Trấn Võ thôn Cự Linh, Gia Lâm, cao 3 mét.

Bên cạnh những tôn giáo có từ trước, tại kinh thành Thăng Long vào cuối thế kỷ XVI trở đi đã xuất hiện thêm một tôn giáo nữa, Kitô giáo, do các giáo sĩ phương Tây đưa lại. Năm 1627, Giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes tới Thăng Long đã được hiệu buôn Mậu Tài cho mượn một ngôi nhà gạch để vừa ở, vừa tiếp khách, vừa làm nơi giảng đạo. Ông được yết kiến Trịnh Tráng và tặng cho chúa Trịnh một cái đồng hồ quả lắc có bánh xe, một hộp phấn thấm mực, và một quyển sách toán pháp mạ vàng in gáy bằng chữ Nho. Trong 3 năm, cùng với cha Máckê đã làm lễ rửa tội cho 6.700 người. Sau đó, chúa Trịnh cho phép các giáo sĩ phương Tây được xây dựng nhà ở và nhà thờ ngay tại kinh thành Thăng Long. Riêng trong thế kỷ XVII, tại Thăng Long đã có tới 3 nhà thờ đạo Kitô. Và từ thế kỷ XVII trở đi, số giáo sĩ, số tín đồ Kitô đã càng ngày càng đông, ở kinh thành Thăng Long cũng như các lộ, các trấn.

Về lĩnh vực khoa học và văn học-nghệ thuật, các hoạt động sáng tác, ấn loát tại kinh thành Thăng Long vào các thế kỷ XVII, XVIII cũng diễn ra khá phong phú. Vào các năm 1665, 1676, 1775, những sử thần như Phạm Công Trứ, Hồ Sĩ Dương, Lê Hy, Nguyễn Quý Đức, Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá, Nguyễn Hoàn, Vũ Miên, Lê Quý Đôn đều được lần lượt giao cho tiếp tục biên soạn quốc sử trong thời kỳ nhà Lê.

Những sách viết về y học trong thời kỳ này cũng có nhiều. Năm 1676, Đào Công Chánh, theo lệnh vua soạn sách Bảo sinh diên thọ toản yếu. Khoảng đầu thế kỷ XVIII, Trần Hải Yến, người Thăng Long, biên soạn bộ Y truyền chỉ yếu. Cũng trong thế kỷ XVIII, chùa Hồng Phúc (chùa Hòe Nhai) ở Thăng Long đã in mấy bộ sách thuốc như Nam dược thần hiệu, Hồng Nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh. Năm 1777, Nguyễn Thế Lịch dâng vua 2 bộ sách thuốc là Tiểu nhi khoaThai tiên điều dưỡng phương pháp. Cuối thế kỷ XVIII, có danh y Lê Hữu Trác biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (“Ông già Lười” ở xứ Thượng Hồng, trấn Hải Dương), thường được chúa Trịnh vời về Thăng Long chữa bệnh. Ông có soạn bộ sách thuốc nổi tiếng là Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

Trong thời kỳ này, đặc biệt là trong thế kỷ XVIII, những thơ văn ngâm vịnh về Thăng Long cũng như những sách vở ghi chép về Thăng Long, có nhiều hơn các thời trước, như các tập thơ: Thăng Long thập vịnh, Tây Hồ bát vịnh, Tây Hồ tụng, các sách Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ – Nguyễn Án, v.v… Kinh thành Thăng Long cũng là quê hương của nhiều danh nho, danh sĩ nổi tiếng ở thế kỷ XVIII như: Vũ Thạnh, Bùi Huy Bích, Đặng Trần Côn, Phạm Đình Hổ, v.v…

Những nghệ thuật như ca nhạc vũ, tuồng, chèo rất phổ biến trong thời kỳ này và triều đình Lê – Trịnh ở Thăng Long cũng rất chú ý. Samuel Baron, có ghi lại sự phát triển của những nghệ thuật ấy ở Thăng Long về thế kỷ XVII trong cuốn Description du Royaume du Tonquin (Mô tả xứ Đông Kinh) của ông và ông có nhờ một người Việt Nam đương thời vẽ lại những cảnh nhảy múa của người Việt Nam bấy giờ vào trong sách. Theo Baron, thì những trò chơi giải trí như đánh cầu, chọi gà, bời thuyền thi, v.v… cũng rất thịnh hành ở thế kỷ XVII (Theo Trần Huy Liệu (Chủ biên): Lịch sử Thủ đô Hà Nội. Sđd, tr. 78).

Bên cạnh những trò chơi giải trí lành mạnh ấy là những trò giải trí mua vui hết sức xa xỉ, dâm dật của bọn vua chúa đương thời ở Thăng Long. Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ đã cho biết về sự giải trí của chúa Trịnh Sâm (1767-1782) như sau: “Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ngự chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu quanh vòng bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần thì đều bịt khăn mặc áo đàn bà, dàn bày bách hóa xung quanh bờ hồ để bán. Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các hóa vật như cửa hàng buôn trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay ngồi ở bóng cây bến đá nào đó, hòa vào khúc nhạc âm” (Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến, tr. 14, 15). Phạm Đình Hổ còn thuật thêm khá chi tiết về các thứ giải trí của chúa Trịnh như sau: “Khi ấy phàm bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, đều thu lấy không thiếu một thứ gì… Kẻ hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dậm dọa. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt, khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào lồng chim hay chậu cây. Đêm đến, các cậu trèo qua cung tường lẻn ra, sai bọn tay chân đem lính đến lấy phăng đi rồi buộc cho cái tội đem dìm giấu các vật cung phụng để dậm dọa lấy tiền. Nếu hòn đá hoặc cây cối to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà hủy tường để khiêng ra. Các nhà giàu có bị vu cho là đem giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc đốt bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ” (Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến, tr. 14, 15).

Những ngày tết, ngày hội ở Thăng Long trong thời kỳ này cũng không có gì khác trước. Những tết, những hội nào do bọn quyền quý đứng ra tổ chức tại kinh thành hay tổ chức tại cung phủ riêng của bọn quyền quý, vốn là những hội long trọng, tưng bừng nhất. Tết Rằm tháng Tám – Tết Trung Thu là tết chủ yếu của thiếu nhi mà trong phủ chúa Trịnh ở Thăng Long cũng tổ chức cực kỳ hoa hoa lộng lẫy để chúa Trịnh vui chơi giải trí: “Mỗi năm đến Tết Trung thu, từ trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng. Đến ngày chúa ngự giá ra chơi Bắc cung. Cung có ao gọi là Long Trì, rộng nửa dặm. Trong ao trồng rất nhiều hoa sen, hoa súng. Ven ao đắp đất chồng đá làm núi. Chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt có hình có thế. Có những chỗ khuỷu để cho nhạc công ngồi đàn sáo. Bờ ao trồng hàng mấy trăm cây phù dung, treo đèn ở trên. Sóng trăng dập dờn. Trông xa tựa hồ hàng vạn ngôi sao sáng. Nội thị từ tam phẩm trở lên, chít khăn áo như đàn bà, bầy hàng ở ria đường bán những hàng tạp hóa cùng các đồ hoa quả chả rượu, thứ gì cũng có, chồng chất như núi. Cung nhân qua lại mua bán, vừa mua vừa cướp, không cần hỏi giá bao nhiêu; đua nhau đem những câu hát quê ra đối chọi với nhau, tiếng cười đùa vang cả trong ngoài. Nửa đêm chúa ngự kiệu đến ao xuống thuyền. Quan hầu và các phi thiếp gõ ván hò reo, đi lại vi vút và lênh đênh trên sông. Chợt lúc lại đánh đàn, lại thổi sáo, ca hát, tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên cung Quảng Hàn (cung trăng) mà nghe khúc hát Quân Thiều (khúc hát trên trời). Chúa nhìn ngắm lấy làm vui sướng, đến mãi gà gáy mới về” (Phạm Đình Hổ – Nguyễn Án: Tang thương ngẫu lục. Nxb Văn hóa-Thông tin, H. 2000, tr. 27).

(1) Năm 1892, có làm thêm một cái bệ đá cao 1,50 mét để đặt tượng lên.

facebook-profile-picture
About MyHanoi 150 Articles
MyHanoi không chỉ là tên của chúng tôi, đó còn là tên của nỗi nhớ thương, của tình yêu ở trong tim tất cả những ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất thiêng núi Nùng, sông Nhị, mảnh đất rồng bay, của những ai mà tuổi thơ gắn liền với những con phố, hàng cây, những người đã và đang làm việc tại chốn thành đô đẹp tươi này. Và những ai, dẫu có sống tại quê người, nhưng tấm lòng luôn hướng về Hà Nội – nơi thẳm sâu trong trái tim mình...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*