Danh mục
- Thông báo từ MyHanoi
- Tin tức - Sự kiện
- Thông tin chung
- Điều kiện tự nhiên
-
Lịch sử
-
Giáo dục
-
Văn hóa
- Kinh tế
-
Phong tục - Lễ Hội
-
Nghệ thuật
-
Du lịch - Giải trí
-
Ẩm thực
- Y tế
- Kiến trúc
- Thể thao
- Danh nhân Hà Nội
- Cơ quan - Tổ chức
- Giao thông
- Làng quê & Làng nghề
-
Đơn vị hành chính
-
Địa danh
- Đường & Phố
- Hà Nội của tôi... - Viết về Hà Nội
Navigate archive
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | ||
| 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 |
| 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 |
| 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 |
| 27 | 28 | 29 | 30 | 31 |
Hà Nội những ngày đầu đấu tranh chống cách cai trị của Pháp
Thi hành các điều khoản của hiệp ước 1884, Pháp đuổi các quan quân nhà Nguyễn ra ngoài thành và đưa đại quân của chúng vào. Số quân còn lại chia nhau đóng ở các đường phố chính. Công sứ Pháp ở Hà Nội đặt trụ ở ngôi nhà nay là 80 phố Hàng Gai. Đội quân thông tin đóng tại đền Ngọc Sơn, đội quân tình báo đóng tại chùa Quan Thượng bên bờ hồ Gươm (khu nhà bưu điện hiện nay). Trong khi đó, tổng đốc Hà Nội phải về đóng trụ sở tại làng Tiên Thị (phố Lý Quốc Sư ngày nay). Nha kinh lược, với viên kinh lược sứ, đại diện tối cao cho triều đình Huế cũng phải đến đóng trụ sở ở phố Hàng Gai đối diện toà công sức Pháp để tiện bàn bạc (!)
Đến ngày 1-10-1888 triều đình Huế dâng Hà Nội cho Pháp. Hà Nội chính thức trở thành một thành phố theo chế độ nhượng địa. Từ đây các cơ quan triều đình đóng tại Hà Nội không còn quyền hành đối với Hà Nội mà chỉ là đóng nhờ trên đất của Pháp để tiếp tục quản lý những ruộng đất còn lại theo quy chế bảo hộ. Nhưng trong lòng Hà Nội vẫn âm ỉ một phong trào chống Pháp. Hội Tín Nghĩa tập hợp gần 5.000 người yêu nước trong Hà Nội và các vùng ngoại vi do Dương Hữu Quang cầm đầu tiến hành thường xuyên các vụ bắt bọn hào phú tay sai giặc, buộc chúng nộp tiền của đển nuôi quân, sắm vũ khí. Dương Hữu Quang không phải người Hà Nội - ông quê huyện Thanh Oai (Hà Tây) nhưng đã từng giữ chức tri huyện Thọ Xương. Đến năm 1883, khi Hà Nội và Sơn Tây nối nhau thất thủ, ông đứng ra tập hợp những người nghĩa khí mưu việc chống giặc.
Quân Tín Nghĩa đã đột nhập Hà Nội bắt mục Bâyrơ (Beire) là gián điệp Pháp, bố trí đón đường cướp con voi tuần phủ Ninh Bình gửi về biếu công sứ Pháp ở Hà Nội; đánh bọn lính Pháp trong cuộc đua thuyền trên hồ Hoàn Kiếm do Pháp và tay sai tổ chức ăn mừng một năm ký kết hiệp ước bán nước 1884; giết chết tên đề đốc tay sai khi hắn dẫn giặc Pháp về càn quét các làng vùng Từ Liêm.
Tiếng súng Cần Vương cũng vang nổ xung quanh Hà Nội. Nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật từ mạn Hưng Yên đã triển khai hoạt động về phía Hà Nội. Đêm 12 rạng sáng ngày 26-6-1886, một đồn binh Pháp gần cầu Đuống, cách Hà Nội 6 km bị tấn công. Đêm 16-7-1888, nghĩa quân nã súng vào pháo đài Pháp trên tả ngạn sông Hồng.
Thực dân Pháp tìm cách đối phó. Chúng huy động lực lượng quân sự lớn vào việc càn quét các vùng quanh Hà Nội và hễ bắt được các chỉ huy nghĩa quân là đưa về xử tử tại Hà Nội để khủng bố tinh thần nhân dân. Ngày 15-4-1887, xử tử Nguyễn Cao tại Bãi Dừa bên hồ Gươm. Ngày 23-5-1891, xử tử Đốc Cập ở vườn hoa Pônbe (nay là vườn hoa Chí Linh); ngày 5-10-1893, xử tử một người Pháp là Cờlôxát (Henri de Clausade) phản ngũ chạy sang hàng ngũ nghĩa quân Đốc Tít ở Hải Dương dưới chân Cột Cờ, và chỉ một tháng sau ngày 7-11 lại chặt đầu Đội Văn ở vườn hoa Pôn-be.
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp càng ráo riết thâu tóm mọi quyền hành vào tay. Ngày 26-7-1897, chúng bắt vua Thành Thái ký dụ bãi bỏ Nha kinh lược Bắc Kỳ để chuyển quyền sang thống sứ Pháp ở Bắc Kỳ. Cùng với việc cướp đất của dân, chúng mở thêm nhiều phố xá, xây dựng doanh trại. Một số cơ sở chế biến, cửa hiệu dịch vụ của người Pháp đã ra đời, như nhà máy rượu bia Ô-men (Hommel), hiệu thuốc tây Blăng (Blanc)… Chúng cho phá thành Hà Nội từ năm 1896 đến năm 1897 mới xong. Hà Nội dần dần mang bộ mặt mới.
Thực dân Pháp và tay sai cho rằng đã qua thời đánh dẹp. Ngày 4-12-1898, hội chợ Hà Nội lần thứ hai khai mạc trên khu đất hai làng An Tập và Liên Trì (khu vực Cung Văn hoá Lao động ngày nay), để quảng cáo cho xứ Bắc Kỳ và Đông Dương. (Hội chợ lần thứ nhất mở năm 1887 tại Trường Thi).
Bọn chúng không hề biết rằng Hà Nội lúc này đã là mục tiêu tấn công của nghĩa quân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây dưới sự chỉ huy của Vương Quốc Chính. Ông quê làng Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Dương) từ năm 1895 đã về tu ở chùa Ngọc Long Động (nay ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Tại đây ông tập hợp những người yêu nước chống Pháp, trong số tướng lĩnh có nhiều người ở Hà Nội như Nguyễn Hanh, Hoa Văn Trứ ở Cổ Nhuế, Đỗ Đắc Kiên ở làng Đăm. Đinh Công Bạch ở Thọ Xương. Đúng vào đêm 5-12-1898, nghĩa quân đã ém sát bên ngoài, chỉ chờ đèn điện trong phố tắt là tấn công ngay vào. Cùng lúc, các tầng lớp nhân dân trong thành phố, từ các nhà nho đến các thợ thuyền, bồi bếp làm công cho bọn Pháp, kể cả một số lính nguỵ được vận động từ trước, sẵn sàng nổi dậy phối hợp. Nhưng do kế hoạch bị lộ, bọn Pháp đã thiết quân luật và tăng cường phòng bị nên tới giờ quy định mà đèn điện trong thành phố vẫn không tắt, nghĩa quân bố trí bên ngoài đành phải rút. Tuy nhiên ở một số nơi như Sơn Tây, Hà Đông, nghĩa quân đã rào làng, đào hào, đắp luỹ, tiến hành trừ gian. Đặc biệt đội nghĩa quân 300 người do ông Tuần Vọng chỉ huy, ngay trong đêm đó đã nổ súng tấn công đồn Ngọc Hà (quận Ba Đình). Sự kiện này đã có ảnh hưởng lớn. Giặc Pháp điên cuồng đối phó bằng cách chém giết và đày ra Côn Đảo hàng trăm người dân. Nhưng người Hà Nội vẫn bền gan chiến đấu.
Để khép lại chương này, cũng còn phải kể tới dòng văn học ca ngợi cuộc kháng chiến chông Pháp đó. Tiêu biểu là chùm tác phẩm liên quan đến việc “thất thủ Hà thành” gồm Di biểu của Hoàng Diệu, Chính khí ca, Hà Thành thất thủ ca (khuyết danh) và nhiều thơ điếu, câu đối phùng, thơ đề vịnh... Những áng văn thơ này đề tài cũng khá tập trung. Nếu trong triều đình đã chia ra hai phái chủ hoà và chủ chiến thì trong dân chúng cũng nổi lên một làn sóng không tuân mệnh vua, tự ý tổ chức chống ngoại xâm. Và nhân dịp này họ công khai tỏ rõ ý chí của mình. Đối với họ, bảo vệ thành Hà Nội, bảo vệ Tổ quốc là chính nghĩa, Hoàng Diệu và các chiến sĩ bỏ mình vì bảo vệ thành mặc dù chốg mệnh vua nhưng vẫn là trung nghĩa, phải đạo.
Những người “tận trung” ấy mang trong mình chính khí của trời đất, quyết đem cái chết để tỏ rõ một thái độ, để rửa nhục cho đất nước. Hoangg Diệu với trách nhiệm một vị tướng bảo vệ thành đã không thể đang tâm “bỏ thành chạy trốn”, “mở cổng thành cho chúng tự do ra vào” hoặc “rút hết quân đi cho chúng khỏi ngờ (!)” mà ông nghĩ: “Nơi trung thổ trở nêm đất địch, sống thẹn cùng nhân sĩ Bắc Hà; lòng cô trung thề với thành Long, chết mong theo Nguyễn Tri Phương dưới đất” (Di biểu). Ý chí của Hoàng Diệu đã khích lệ quân sĩ và họ cũng đã chiến đấu hết mình khiến quân Pháp phải hoảng sợ.
Cho dẫu rằng Hà thành thất thủ, tướng quân Hoàng Diệu tuẫn tiết, nhiều nghĩa sĩ bỏ mình, nhưng họ và ông đã trở nên bất tử:
Sử sách ngàn năm còn truyền tiết liệt
Người cô thần lấy cái chết để tỏ gan trung nghĩa...
Nghìn năm núi Nùng còn nêu chính khí,
Khách anh hùng tới đó dòng lệ ngổn ngang
(Sĩ tử Hà Thành viếng Hoàng Diệu)
Chùm tác phẩm văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX đã góp thêm một tiếng nói mới cho dòng văn học yêu nước của Thăng Long ngàn năm, đó là giọng điệu bi tráng và cảm khái. Những tác phẩm này góp phần đặt một cái mốc, cái đà để văn thơ yêu nước, cổ động, văn thơ chính trị nở rộ vào đầu thế kỷ XX.
Đến ngày 1-10-1888 triều đình Huế dâng Hà Nội cho Pháp. Hà Nội chính thức trở thành một thành phố theo chế độ nhượng địa. Từ đây các cơ quan triều đình đóng tại Hà Nội không còn quyền hành đối với Hà Nội mà chỉ là đóng nhờ trên đất của Pháp để tiếp tục quản lý những ruộng đất còn lại theo quy chế bảo hộ. Nhưng trong lòng Hà Nội vẫn âm ỉ một phong trào chống Pháp. Hội Tín Nghĩa tập hợp gần 5.000 người yêu nước trong Hà Nội và các vùng ngoại vi do Dương Hữu Quang cầm đầu tiến hành thường xuyên các vụ bắt bọn hào phú tay sai giặc, buộc chúng nộp tiền của đển nuôi quân, sắm vũ khí. Dương Hữu Quang không phải người Hà Nội - ông quê huyện Thanh Oai (Hà Tây) nhưng đã từng giữ chức tri huyện Thọ Xương. Đến năm 1883, khi Hà Nội và Sơn Tây nối nhau thất thủ, ông đứng ra tập hợp những người nghĩa khí mưu việc chống giặc.
Quân Tín Nghĩa đã đột nhập Hà Nội bắt mục Bâyrơ (Beire) là gián điệp Pháp, bố trí đón đường cướp con voi tuần phủ Ninh Bình gửi về biếu công sứ Pháp ở Hà Nội; đánh bọn lính Pháp trong cuộc đua thuyền trên hồ Hoàn Kiếm do Pháp và tay sai tổ chức ăn mừng một năm ký kết hiệp ước bán nước 1884; giết chết tên đề đốc tay sai khi hắn dẫn giặc Pháp về càn quét các làng vùng Từ Liêm.
Tiếng súng Cần Vương cũng vang nổ xung quanh Hà Nội. Nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật từ mạn Hưng Yên đã triển khai hoạt động về phía Hà Nội. Đêm 12 rạng sáng ngày 26-6-1886, một đồn binh Pháp gần cầu Đuống, cách Hà Nội 6 km bị tấn công. Đêm 16-7-1888, nghĩa quân nã súng vào pháo đài Pháp trên tả ngạn sông Hồng.
Thực dân Pháp tìm cách đối phó. Chúng huy động lực lượng quân sự lớn vào việc càn quét các vùng quanh Hà Nội và hễ bắt được các chỉ huy nghĩa quân là đưa về xử tử tại Hà Nội để khủng bố tinh thần nhân dân. Ngày 15-4-1887, xử tử Nguyễn Cao tại Bãi Dừa bên hồ Gươm. Ngày 23-5-1891, xử tử Đốc Cập ở vườn hoa Pônbe (nay là vườn hoa Chí Linh); ngày 5-10-1893, xử tử một người Pháp là Cờlôxát (Henri de Clausade) phản ngũ chạy sang hàng ngũ nghĩa quân Đốc Tít ở Hải Dương dưới chân Cột Cờ, và chỉ một tháng sau ngày 7-11 lại chặt đầu Đội Văn ở vườn hoa Pôn-be.
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp càng ráo riết thâu tóm mọi quyền hành vào tay. Ngày 26-7-1897, chúng bắt vua Thành Thái ký dụ bãi bỏ Nha kinh lược Bắc Kỳ để chuyển quyền sang thống sứ Pháp ở Bắc Kỳ. Cùng với việc cướp đất của dân, chúng mở thêm nhiều phố xá, xây dựng doanh trại. Một số cơ sở chế biến, cửa hiệu dịch vụ của người Pháp đã ra đời, như nhà máy rượu bia Ô-men (Hommel), hiệu thuốc tây Blăng (Blanc)… Chúng cho phá thành Hà Nội từ năm 1896 đến năm 1897 mới xong. Hà Nội dần dần mang bộ mặt mới.
Thực dân Pháp và tay sai cho rằng đã qua thời đánh dẹp. Ngày 4-12-1898, hội chợ Hà Nội lần thứ hai khai mạc trên khu đất hai làng An Tập và Liên Trì (khu vực Cung Văn hoá Lao động ngày nay), để quảng cáo cho xứ Bắc Kỳ và Đông Dương. (Hội chợ lần thứ nhất mở năm 1887 tại Trường Thi).
Bọn chúng không hề biết rằng Hà Nội lúc này đã là mục tiêu tấn công của nghĩa quân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây dưới sự chỉ huy của Vương Quốc Chính. Ông quê làng Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Dương) từ năm 1895 đã về tu ở chùa Ngọc Long Động (nay ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Tại đây ông tập hợp những người yêu nước chống Pháp, trong số tướng lĩnh có nhiều người ở Hà Nội như Nguyễn Hanh, Hoa Văn Trứ ở Cổ Nhuế, Đỗ Đắc Kiên ở làng Đăm. Đinh Công Bạch ở Thọ Xương. Đúng vào đêm 5-12-1898, nghĩa quân đã ém sát bên ngoài, chỉ chờ đèn điện trong phố tắt là tấn công ngay vào. Cùng lúc, các tầng lớp nhân dân trong thành phố, từ các nhà nho đến các thợ thuyền, bồi bếp làm công cho bọn Pháp, kể cả một số lính nguỵ được vận động từ trước, sẵn sàng nổi dậy phối hợp. Nhưng do kế hoạch bị lộ, bọn Pháp đã thiết quân luật và tăng cường phòng bị nên tới giờ quy định mà đèn điện trong thành phố vẫn không tắt, nghĩa quân bố trí bên ngoài đành phải rút. Tuy nhiên ở một số nơi như Sơn Tây, Hà Đông, nghĩa quân đã rào làng, đào hào, đắp luỹ, tiến hành trừ gian. Đặc biệt đội nghĩa quân 300 người do ông Tuần Vọng chỉ huy, ngay trong đêm đó đã nổ súng tấn công đồn Ngọc Hà (quận Ba Đình). Sự kiện này đã có ảnh hưởng lớn. Giặc Pháp điên cuồng đối phó bằng cách chém giết và đày ra Côn Đảo hàng trăm người dân. Nhưng người Hà Nội vẫn bền gan chiến đấu.
Để khép lại chương này, cũng còn phải kể tới dòng văn học ca ngợi cuộc kháng chiến chông Pháp đó. Tiêu biểu là chùm tác phẩm liên quan đến việc “thất thủ Hà thành” gồm Di biểu của Hoàng Diệu, Chính khí ca, Hà Thành thất thủ ca (khuyết danh) và nhiều thơ điếu, câu đối phùng, thơ đề vịnh... Những áng văn thơ này đề tài cũng khá tập trung. Nếu trong triều đình đã chia ra hai phái chủ hoà và chủ chiến thì trong dân chúng cũng nổi lên một làn sóng không tuân mệnh vua, tự ý tổ chức chống ngoại xâm. Và nhân dịp này họ công khai tỏ rõ ý chí của mình. Đối với họ, bảo vệ thành Hà Nội, bảo vệ Tổ quốc là chính nghĩa, Hoàng Diệu và các chiến sĩ bỏ mình vì bảo vệ thành mặc dù chốg mệnh vua nhưng vẫn là trung nghĩa, phải đạo.
Những người “tận trung” ấy mang trong mình chính khí của trời đất, quyết đem cái chết để tỏ rõ một thái độ, để rửa nhục cho đất nước. Hoangg Diệu với trách nhiệm một vị tướng bảo vệ thành đã không thể đang tâm “bỏ thành chạy trốn”, “mở cổng thành cho chúng tự do ra vào” hoặc “rút hết quân đi cho chúng khỏi ngờ (!)” mà ông nghĩ: “Nơi trung thổ trở nêm đất địch, sống thẹn cùng nhân sĩ Bắc Hà; lòng cô trung thề với thành Long, chết mong theo Nguyễn Tri Phương dưới đất” (Di biểu). Ý chí của Hoàng Diệu đã khích lệ quân sĩ và họ cũng đã chiến đấu hết mình khiến quân Pháp phải hoảng sợ.
Cho dẫu rằng Hà thành thất thủ, tướng quân Hoàng Diệu tuẫn tiết, nhiều nghĩa sĩ bỏ mình, nhưng họ và ông đã trở nên bất tử:
Sử sách ngàn năm còn truyền tiết liệt
Người cô thần lấy cái chết để tỏ gan trung nghĩa...
Nghìn năm núi Nùng còn nêu chính khí,
Khách anh hùng tới đó dòng lệ ngổn ngang
(Sĩ tử Hà Thành viếng Hoàng Diệu)
Chùm tác phẩm văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX đã góp thêm một tiếng nói mới cho dòng văn học yêu nước của Thăng Long ngàn năm, đó là giọng điệu bi tráng và cảm khái. Những tác phẩm này góp phần đặt một cái mốc, cái đà để văn thơ yêu nước, cổ động, văn thơ chính trị nở rộ vào đầu thế kỷ XX.
Đánh giá bài viết này







del.icio.us
Digg
Gửi bình luận của bạn